Phần I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau
TRUYỆN HAI THẦN HIẾU ĐỄ (Thánh Tông di thảo)
Ở Sơn Bắc có Nguyễn Tử Khanh, cha mẹ mất sớm, chỉ có một người anh. Khi lớn tuổi, anh và chị dâu đều mất cả, để lại một cháu. Tử Khanh coi như con. Nhà tuy túng thiếu mà gia đình vẫn hóa mục như thường. Ba đời theo nghiệp học, chưa có thành tựu đỗ đạt gì.
Khi ấy Tử Khanh đã bốn mươi bảy tuổi. Một hôm, đi ra có việc buổi chiều mới về. Giữa đường gặp mưa to gió lớn, bất đắc dĩ phải trú ở một ngôi miếu giữa đồng. Lại sợ đồng không mông quạnh, trộm cướp qua lại, mới cuốn chiếc chiếu vào mình, lên nằm im dưới gầm sàn trong miếu. Mưa ướt người rét, không thể chợp mắt được. Đến nửa đêm, mưa tạnh gió yên, bóng trăng lờ mờ, Tử Khanh bỗng thấy trong miếu đèn lửa sáng trưng, có bấy bánh trái, hoa quả, lại có năm người đội mũ vàng đi hia thêu từ ngoài cửa bước vào, lần lượt ngồi có thứ tự. Tử Khanh ở gầm sàn nhìn trộm, thấy rõ ràng có anh mình ở đấy. Bụng hiểu là thần, mới ngồi yên để xem ra sao.
Trong tiệc rượu phải làm thơ cho vui. Uống rượu theo thứ tự. Ai không làm được, chúng ta cũng bắt phạt. Mọi người đều bằng lòng. Một người ngâm trước rằng:
Một tung, lại một hoành
Chữ “thập” rất phân minh.
Cuối chữ thêm một nét,
Chữ “thổ” đâu hiện hình.
Một người ngâm theo:
Một tung lại một hoành,
Đầu chữ thêm một nét,
Chữ “chủ” đâu hiện hình
Sau cùng, một người ngâm theo
Một tung lại bốn hoành,
Chữ “chủ” rất phân minh.
Đọc hai câu rồi, không đọc tiếp được nữa. Bốn người cả cười, xúm lại rót rượu phạt. Tử Khanh ở gầm sàn, không ngờ nghe cũng ngứa nghề, đọc tiếp hộ người ấy rằng:
Bên chữ hạ một nét,
Chữ “ngọc” đâu hiện hình?
Người anh nghe đọc rồi ngẫm nghĩ rằng: “Quái lạ, tiếng ai sao giống tiếng em ta vậy?” Vội gọi:
– Tử Khanh em ta đấy ư?
Tử Khanh ở gầm sàn, tức thì chạy ra ôm anh khóc òa lên rằng:
– Ôi! Anh đi đâu, để em một mình cô đơn hơn hai chục năm nay, chỉ những khóc thầm. May sao đêm nay lại được trông thấy anh. Cháu hiện đã trưởng thành, em xin theo anh đi.
Bốn thần kia thấy thế, lần lần biến đi hết.
Anh mới bảo em rằng:
– Đây là chỗ ngẫu nhiên đến chơi thôi. Nên về chỗ anh ở để nói chuyện.
Rồi dắt tay nhau ra cửa miếu, cưỡi xe mây đi chừng nữa khắc, tới một nơi, thấy mấy tòa lâu đài, xuống xe cùng vào. Khi đã ngồi yên, anh bảo em: Sau khi anh chết Thượng Đế thương tình anh trong đời sống thờ cha mẹ không phạm lỗi gì, mà tiến thân lại không có lộc vị, nên phong làm ở Sơn Âm. Chỗ này là đền thờ anh đó, anh lại thường được xem sổ đỏ ở Nam Tào, thấy em thờ anh như cha, nuôi cháu như con, tình hữu ái do tấm lòng thành thật, nên cũng được phong làm sơn thần Sơn Dương, ngàn thu khói hương, muôn năm cúng tế vậy.
Tử Khanh nhân hỏi rằng:
– Các thần hội họp làm gì?
Anh nói: Năm nay gặp khoa thi Hương. Hôm qua Thiên Đình treo bảng. Các thân lên xem, ngẫu nhiên gặp nhau thôi.
Em lại hỏi: Khoa này em và cháu, có ai đỗ không?
Anh nói:
– Người hầu hạ ở ngay bên cạnh, tai mắt rất nhiều, thiên cơ sao dám tiết lộ. Vả lại, anh em mình dẫu là chỉ thân, nhưng âm dương cách biệt. Chỉ nên tạm ngồi với nhau trong chốc lát, không nên ở lâu. Em phải về ngay. Mười năm sau tháng Giêng đúng ngày Thượng nguyên, hai miếu thờ đối nhau, thì giờ đi lại chuyện trò còn nhiều.
Đoạn, bảo quân hầu lánh ra ngoài, cởi cẩm nang lấy ra hai phong thư trao cho Tử Khanh, dặn rằng: Cung mệnh em vất vả, anh cũng không làm thế nào được. Ba tháng nay, hết sức mưu toan, chỉ có thể giúp cho cháu thành danh thôi. Hai phong thư này em nên giấu kỹ. Đợi đến ba ngày trước khi vào trường thi, xem chữ ghi ở trên, bắt cháu học thuộc lòng, và có thể đỏ nhỏ đấy. Luật trời rất nghiêm, nếu để lộ cho người ngoài biết, thì hai bên đều bị tội nặng.
Dặn xong liền gọi: Nguyên Anh! Nguyên Anh! Thắng xe vân bình, cưỡi gió nhẹ tênh, tiến chân Tử Khanh! Tử Khanh khóc lạy từ biệt.Khi trời sắp sáng, không thấy Nguyên Anh đâu, mà mình đã đứng trước của nhà cũ rồi. Từ Khanh gỗ cửa vào nhà, không tiết lộ việc ấy với ai. Đến kỳ thi, nhất nhất làm theo lời anh dặn. Quả nhiên khoa ấy, người con của anh đỗ tú tài. Gia tư từ đây cũng dần dần trở nên giàu có. Đúng mười năm sau, vào hôm trước ngày Thượng nguyên, gọi cháu tới nói rõ việc ấy. Nói xong thì tắt nghỉ. Đến nay ở núi Vũ Ninh hai đền thờ người họ Nguyễn sinh vẫn còn linh ứng.
(Nguyễn Bích Ngô dịch, Thánh Tông di thảo, NXB Hồng Đức, 2017)
Chú thích:
(1) Tung: nét số; hoành: nét ngang, hợp lại thành chữ thập.
(2) Chữ thập thêm một nét ngang ở dưới thành chữ thổ,
(3) Chữ vương thêm một nét ở trên đấu thành chữ chủ.
(4) Lấy nét trên đầu chữ chủ (,) hạ xuống cạnh chữ vương thành chữ ngọc.
(5) Thượng nguyên tức là rằm tháng Giêng Âm lịch.
Trả lời câu hỏi từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1. Văn bản viết về đề tài gì?
Câu 2. Trong truyện, nhân vật Tử Khanh có hoàn cảnh như thế nào?
Câu 3. Các yếu tố kì ảo hoang đường trong truyện có tác dụng gì?
Câu 4. Việc làm của người anh: “Đoạn, bảo quân hầu lánh ra ngoài, cởi cẩm nang lấy ra hai phong thư trao cho Tử Khanh, dặn rằng: Cung mệnh em vất vả, anh cũng không làm thế nào được. Ba tháng nay, hết sức mưu toan, chỉ có thể giúp cho cháu thành danh thôi. Hai phong thư này em nên giấu kỹ. Đợi đến ba ngày trước khi vào trường thi, xem chữ ghi ở trên, bắt cháu học thuộc lòng, và có thể đỏ nhỏ đấy. Luật trời rất nghiêm, nếu để lộ cho người ngoài biết, thì hai bên đều bị tội nặng” phản ánh hiện thực nào trong xã hội?
Câu 5. Từ câu chuyện của Tử Khanh và anh trai, bài học có ý nghĩa nhất đối với bản thân anh/chị là gì? Vì sao?
Đáp án
Câu 1. Văn bản viết về đề tài gì?
→ Truyện về thần được thờ cúng ngày nay.
Điểm: 0,5
Câu 2. Trong truyện, nhân vật Tử Khanh có hoàn cảnh như thế nào?
→ Mồ côi cha mẹ, anh trai và chị dâu mất, nuôi cháu như con, gia cảnh nghèo, ba đời chưa đỗ đạt.
Điểm: 0,5
Câu 3. Các yếu tố kỳ ảo hoang đường trong truyện có tác dụng gì?
→
- Tăng tính hấp dẫn cho câu chuyện
- Đề cao người sống nghĩa tình, hiếu thuận
- Phê phán việc lợi dụng chức quyền, thiếu trung thực
Điểm: 1,0
Câu 4. Việc làm của người anh phản ánh hiện thực nào trong xã hội?
→ Phản ánh tình trạng gian lận trong thi cử, lợi dụng chức quyền để nâng đỡ người thân, thiếu minh bạch.
Điểm: 1,0
Câu 5. Bài học có ý nghĩa nhất từ câu chuyện là gì? Vì sao?
→ Sống trung thực, rèn tính tự lập, không ỷ lại. Vì đó là nền tảng để xây dựng nhân cách và được người đời kính trọng.
Điểm: 1,0

Thông tin về tác giả
Thánh Tông di thảo là tập truyện truyền kỳ được cho là của vua Lê Thánh Tông, một vị vua nổi tiếng văn minh và yêu chuộng văn học. Tác phẩm kết hợp giữa yếu tố kỳ ảo và hiện thực, phản ánh sâu sắc đạo lý, nhân sinh và xã hội phong kiến. Truyện “Hai thần hiếu đễ” là một trong những truyện tiêu biểu, đề cao lòng hiếu thảo, nghĩa tình và phê phán sự bất công trong xã hội.
5 Câu hỏi mở rộng
Câu 6. Vì sao Tử Khanh được phong làm thần Sơn Dương?
→ Vì ông sống nghĩa tình, hiếu thuận, nuôi cháu như con, được các thần kính trọng.
Câu 7. Việc người anh giúp cháu thi đỗ có thể gây ra hệ quả gì nếu bị lộ?
→ Cả hai bên đều bị trừng phạt theo luật trời, mất đi sự công bằng trong thi cử.
Câu 8. Qua truyện, bạn rút ra điều gì về mối quan hệ giữa âm – dương?
→ Dù âm dương cách biệt, tình thân vẫn thiêng liêng, có thể kết nối qua lòng thành và nghĩa tình.
Câu 9. Truyện có phản ánh gì về quan niệm thi cử thời xưa?
→ Thi cử là con đường lập thân, nhưng cũng tồn tại gian lận, sự can thiệp từ thế lực siêu nhiên.
Câu 10. Nếu bạn là Tử Khanh, bạn sẽ làm gì với hai phong thư của anh trai?
→ Giữ kín, làm theo đúng lời dặn, không tiết lộ để tránh hậu quả, đồng thời trân trọng tấm lòng của anh.