Phương pháp đọc hiểu văn bản Kí (mức độ Thông hiểu)
Những yêu cầu cơ bản
Phân tích, lí giải được ý nghĩa, tác dụng của các chi tiết tiêu biểu, đề tài, cái tôi trữ tình, giọng điệu và mối quan hệ giữa các yếu tố này trong văn bản.
- Phân tích được sự kết hợp giữa cốt tự sự và chất trữ tình; giữa hư cấu và phi hư cấu trong văn bản.
- Phân tích được chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản.
- Phân tích, lí giải được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể hiện qua văn bản; phát hiện và lí giải được các giá trị văn hóa, triết lí nhân sinh của văn bản.
- Phân tích được những đặc điểm của hình tượng trung tâm trong tác phẩm kí; lí giải được vai trò, ý nghĩa của hình tượng này trong tác phẩm.
Phân tích, lí giải một số thủ pháp nghệ thuật như: miêu tả, trần thuật; sự kết hợp chi tiết, sự kiện hiện thực với trải nghiệm, yếu tố chů quan của người viết trong việc thể hiện nội dung văn bản.
- Phân tích và đánh giá được sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của văn bản.
- Lí giải được tính đa nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật trong văn bản. Phát hiện và lí giải được giá trị nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ; giá trị văn hóa và triết lí nhân sinh từ tác phẩm.
Dạng 1: Phân tích, lí giải ý nghĩa, tác dụng của các chi tiết tiêu biểu, đề tài, cái tôi trữ tình, giọng điệu.
Kiến thức cơ bản:
+ Vai trò của chi tiết tiêu biểu: dẫn dắt câu chuyện, tô đậm đặc điểm, tính cách nhân vật, tạo sự hấp dẫn, làm nổi bật chủ đề tư tưởng của văn bản.
+ Vai trò của đề tài: giúp nhà văn thể hiện quan điểm cá nhân, giá trị và cảm xúc của mình, tạo nên sự đa dạng và phong cách riêng biệt trong tác phẩm văn học.
+ Vai trò của cái tôi nhà văn: giúp người đọc có thể cảm nhận được những suy nghĩ, tư tưởng và quan niệm… của tác giả trước cuộc đời.
+ Vai trò của giọng điệu: truyền cảm cho người đọc và góp phần tạo nên phong cách nhà văn.
Cách trả lời:
+Chỉ ra chi tiết tiêu biểu, đề tài, cái tôi, giọng điệu.
+ Nêu ý nghĩa/tác dụng của chi tiết tiêu biểu, đề tài, cái tôi, giọng điệu.
Dạng 2: Phân tích sự kết hợp giữa cốt tự sự và chất trữ tình; giữa hư cấu và phi hư cấu trong văn bản
Kiến thức cơ bản:
+ Tác dụng của sự kết hợp giữa cốt tự sự và chất trữ tình:
++ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho đoạn văn; sinh động, hấp dẫn, thu hút người đọc, người nghe.
++ Giúp nhà văn khắc họa đối tượng, qua đó thấy được tài năng, tình cảm của tác giả đối với đối tượng được miêu tả.
+ Tác dụng của sự kết hợp giữa hư cấu và phi hư cấu: Vừa đảm bảo tính xác thực, để khi cần người đọc có thể dễ dàng kiểm chứng, vừa đảm bảo sự hoàn chỉnh của cấu trúc tác phẩm trong chỉnh thể của nó, giúp tác phẩm có tính nghệ thuật, thẩm mĩ…
Cách trả lời:
+ Chỉ ra yếu tố tự sự và trữ tình; yếu tố hư cấu và phi hư cấu trong văn bản.
+ Nêu ý nghĩa/tác dụng của các yếu tố đó.
Dạng 3: Nêu chủ đề, tư tưởng của văn bản.
Kiến thức cơ bản:
+ Chủ đề: là vấn đề chủ yếu, trọng tâm được nhà văn tập trung soi rọi, tô đậm lên trong tác phẩm.
+ Tư tưởng: là sự lí giải đối với chủ đề đã nêu lên, là nhận thức của tác giả muốn trao đổi, nhắn gửi, đối thoại với người đọc.
Cách trả lời:
Đối với dạng câu hỏi nêu chủ đề:
+ Nêu chủ đề của văn bản.
+ Thái độ tình cảm của nhà văn đối với vấn đề đó. Đối với dạng câu hỏi nêu giá trị tư tưởng:
+ Nêu vấn đề được nói tới trong văn bản.
+ Thái độ, tình cảm của nhà văn đối với vấn đề đó.
+ Điều tác giả nhắn gửi tới người đọc.
Dạng 4: Lí giải tình cảm, cảm xúc; cảm hứng chủ đạo của người viết thể hiện qua văn bản.
Kiến thức cơ bản:
+ Tình cảm, cảm xúc: là các yếu tố biểu cảm được tác giả thể hiện trong văn bản.
+ Cảm hứng chủ đạo: là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của người đọc.
Cách trả lời:
Đối với dạng câu hỏi nhận xét cảm hứng chủ đạo:
+ Nêu cảm hứng chủ đạo của văn bản.
+ Nhận xét: Đó là cảm hứng …
Đối với dạng câu hỏi nhận xét tình cảm:
+ Nêu tình cảm của tác giả (chọn: yêu quý, trân trọng, biết ơn, tự hảo, …).
+ Nhận xét: Đó là tình cảm… (chân thành, sâu sắc, đúng đắn; góp phần hình thành và giáo dục nhân cách, lối sống tích cực).
Dạng 5: Phát hiện và lí giải các giá trị văn hóa, triết lí nhân sinh của văn bản.
Cách hỏi: Từ câu văn….. anh/chị hiểu gì về…
Cách trả lời:
+ Nêu nội dung của câu văn.
+ Lí giải vấn đề (ý nghĩa của các giá trị văn hóa, triết lí nhân sinh đối với đời sống con người. Từ đó, mỗi chúng ta phải biết gìn giữ những giá trị văn hóa ấy).
Dạng 6: Lí giải vai trò, ý nghĩa của hình tượng trung tâm trong tác phẩm.
Kiến thức cơ bản:
Hình tượng trung tâm trong văn bản giúp cho văn bản thể hiện rõ chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, góp phần làm nên thành công về nghệ thuật cho tác phẩm.
Cách trả lời:
+Chỉ ra được hình tượng trung tâm trong văn bản/đoạn trích.
+ Vai trò hình tượng trung tâm trong văn bản/đoạn trích.
Dạng 7: Phân tích, lí giải một số thủ pháp nghệ thuật như: miêu tả, trần thuật; sự kết hợp chi tiết, sự kiện hiện thực với trải nghiệm, yếu tố chủ quan của người viết trong việc thể hiện nội dung văn bản.
Kiến thức cơ bản:
+ Vai trò của việc kết hợp thủ pháp nghệ thuật miêu tả với trần thuật giúp cho sự kiện và con người trong tác phẩm hiện lên rõ ràng, sinh động, khơi gợi nhiều tình cảm, cảm xúc cho người đọc.
+ Vai trò của sự kết hợp chi tiết, sự kiện hiện thực với trải nghiệm, yếu tố chủ quan của người viết giúp cho hồi kí, nhật kí, phỏng sự không những làm tròn chức năng thông tin mà còn chứa đựng tư tưởng. Đọc nhật kí, hồi kí, phóng sự ta không chỉ thấy được sự kiện mà còn thấy được những vấn đề mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, hiểu được hoàn cảnh, tính cách, số phận của nhân vật.
Cách hỏi:
Việc kết hợp thủ pháp trần thuật với miêu tả trong đoạn trích/văn bản có tác dụng gì?
Cách trả lời:
+Chỉ ra thủ pháp trần thuật và miêu tả trong đoạn trích/văn bản.
+ Tác dụng của việc kết hợp hai thủ pháp đó.
Ví dụ minh họa
Ví dụ 1:
Dạng câu hỏi về ý nghĩa của sự kết hợp giữa cốt tự sự và chất trữ tình. Câu hỏi: Phân tích sự kết hợp hai yếu tố tự sự và trữ tình của đoạn văn sau:
“Tôi lớn lên giữa mùi rơm rạ quê hương, mấy đứa bạn tôi giờ mỗi đứa một nơi. Có đứa qua xứ Tây Đô lập nghiệp, có đứa đi làm dâu tận vùng miệt thứ Cà Mau. Còn tôi… sống và làm việc ở phố thị xa hoa, đêm đêm nhớ nhà, nhớ mùi rơm rạ mà bật khóc. Chao ôi, cái mùi ra nồng nồng khó tả”.
(Nhiều tác giả, trích Nghĩa tình miền Tây, Nxb. Hồng Đức, 2002, tr.44).
Trả lời:
- Yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình của đoạn văn trên là:
+ Yếu tố tự sự: “Tôi lớn lên giữa mùi rơm rạ quê hương, mấy đứa bạn tôi giờ mỗi đứa một nơi. Có đứa qua xứ Tây Đô lập nghiệp, có đứa đi làm dâu tận vùng miệt thứ Cà Mau. Còn tôi… sống và làm việc ở phố thị xa hoa, đêm đêm nhớ nhà, nhớ mùi rơm rạ mà bật khóc.”
- Yếu tố trữ tình: “Chao ôi, cái mùi ra nồng nồng khó tả.”
- Tác dụng:
+ Nghệ thuật: tăng sức gợi hình, gợi cảm cho đoạn văn; tạo sự sinh động, hấp dẫn, thu hút người đọc, người nghe.
+ Nội dung: Giúp tái hiện những kí ức tuổi thơ giản dị, sâu sắc gắn với cánh đồng quê của tác giả, qua đó thể hiện sự quan sát tinh tế gắn bó máu thịt, sự nâng niu, trân trọng của tác giả với quê hương mình.
Dạng câu hỏi nhận xét chủ đề của văn bản Câu hỏi: Nhận xét về chủ đề của văn bản.
Trả lời:
+Chủ đề của văn bản là: Văn bản thể hiện sự gắn bó của tác giả với những kí ức tuổi thơ, qua đó ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước của tác giả.
+ Nhận xét: Đó là chủ đề quen thuộc, gần gũi, có ý nghĩa sâu sắc.
Ví dụ 2:
Cho đến nay, dải đất ven sông Hương từ cầu Bạch Hổ lên chùa Thiên Mụ vẫn ấp ủ trong những vườn tược của nó, dáng dấp văn hóa của một trung tâm đô thị Việt Nam cổ. Chính trên mảnh đất này, thành phố Huế đã ra đời từ năm đó – năm 1636 – và Kim Long trở thành thủ phủ nổi tiếng của Đàng Trong trong suốt năm mươi năm tiếp theo. Cuộc sống phồn vinh, văn vẻ của mảnh đất Thuận Hóa trong thời kì này đã được phản ánh một cách khá đầy đủ trong nhiều sách vở tưởng không cần nhắc lại làm gì. Điều thú vị đối với tôi khi đọc lại, ấy là khi họ đến đây, nhiều người nước ngoài đều ngạc nhiên nhận xét rằng phụ nữ Kim Long ăn mặc rất đẹp; lí do là nghề dệt
gấm thêu hoa đang thịnh hành khắp các phường thợ ven sông Hương. Có lẽ phụ nữ Huế giỏi thêu thùa, biết mặc đẹp, bắt đầu từ cái thời xa xôi ấy. Nên không lạ gì, một người khách du lịch đã đi nhiều nơi trên thế giới hồi ấy là cố đạo A-lec-xăng đơ Rốt, khi viết về “Kehue” (Kẻ Huế) đã nhắc lại nhiều lần rằng đây là một “thành phố lớn”.
Trước thời các chúa Nguyễn đến cắm đô ở đây, vùng Trung du ven sông Hương này đã xuất hiện những thôn hoa xanh biếc rậm rạp, dân cư sống bằng nghề vườn đã lâu đời. Sau này, như đã nhấn mạnh trong các hồi ký về thành phố Kim Long thời ấy, thì các công thự cũng như nhà riêng, đều được xây cất giữa những khu vườn xanh tươi, đầy các thứ cây quý hoa lạ sưu tầm từ khắp về. Đến lượt Phú Xuân, khi đã trở thành kinh đô của cả một đất nước sôi động chiến công dưới thời Quang Trung, Phú Xuân vẫn giữ riêng một phong thái yên tĩnh đầy chất thơ điện dã. Tôi rất cảm mến bà Lê Ngọc Hân, nàng công chúa đất Thăng Long vào đây làm Hoàng hậu, để trở nên một nhà thơ Huế. Vâng, phải là Huế biết mấy mới nhìn thấy được điều này: “Sương mù sắc tim nồng đượm mà hương thơm nức phòng the”. Ôi, tình yêu của bà, cuộc đời của bà, bão táp mà thanh tịnh biết bao nhiêu! Nhà thơ và người anh hùng đã xa khuất, không để lại mộ chí, riêng còn trong câu thơ một nét mặt thành phố trong sáng muôn đời.
[…] Bến đò Trường Thi ngày xưa nay là bãi khoai ngô Hợp tác xã, khu quán chợ nơi Lục Vân Tiên và Cao Bá Quát từng ngồi, bây giờ tĩnh mịch một ngôi chùa cổ, còn Quốc Tử Giám và cả khu hoa viên của Lê Văn Duyệt thì đã ngủ sâu dưới cây trái trong vườn dân. Nhưng mà nếp nhà cũ vẫn còn; cái liêu ở chái trên có vách gỗ, chắn song nhìn ra vườn, nơi mỗi nhà là chốn đèn sách bao đời. An Hiên… Dưới những mái hiên yên tĩnh kia, đã nẩy mầm kết trải bao nhiêu điều không ai biết, trong lý tưởng nhân đạo của Nguyễn Du, trong chính khi nổi giận của Cao Bá Quát, trong mộng kinh bang của Nguyễn Công Trứ và lòng Đạo của Nguyễn Đình Chiểu. Còn những nhân vật trường ốc cũ, qua cuộc đổi đời đã trở thành những người dân lành, biết trồng cây, biết đọc sách và biết sống giữ lề…Suốt ba trăm năm mươi năm xây dựng, Huế đã dời chỗ theo một vết dài chừng năm cây số dọc sông Hương, để lại đằng sau nó bản phác thảo đầu tiên của cái mô hình “thành phố vườn” bây giờ. Lịch sử đổi thay, con người đi qua, nhưng những thành phố còn lại. Để trả lời cho các thế hệ tương lai về những kinh nghiệm sống làm giàu có thêm nhân loại…
(Trích Hoa trái quanh tôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nxb. Trẻ, 1995, trang 26, 27, 28)
Dạng câu hỏi ý nghĩa, tác dụng của các chi tiết tiêu biểu
Câu hỏi: Nêu ý nghĩa của chi tiết “ba trăm năm mươi năm xây dựng” trong đoạn trích.
Trả lời:
Chi tiết “ba trăm năm mươi năm xây dựng” xuất hiện trong đoạn trích có ý nghĩa:
+ Là yếu tố quan trọng làm cho đoạn văn sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.
+ Nhấn mạnh quá trình hình thành và phát triển đến ngày hôm nay của xứ Huế không hề dễ dàng mà phải vượt qua bao thăng trầm, thử thách của lịch sử, của thời gian.
+ Đồng thời, khẳng định sự trường tồn bất biến của vẻ đẹp và giá trị văn hóa xứ Huế, một vẻ đẹp cổ kính lâu đời mà vẫn hiện đại. Vẻ đẹp và giá trị đó đã vượt lên trên sự thử thách của thời gian, sự biến thiên của lịch sử. Qua đó, tác giả thể hiện niềm tự hào, sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử phát triển của xứ Huế.
Dạng câu hỏi lí giải tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể hiện qua văn bản
Câu hỏi: Nhận xét tình cảm của tác giả dành cho quê hương, đất nước được thể hiện trong đoạn trích.
Trả lời:
- Tình cảm của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường dành cho quê hương đất nước được thể hiện trong đoạn trích là:
+ Tác giả yêu quê hương bằng cả trái tim mình, tự hào về quê hương và trăn trở về những đổi thay của quê hương.
+ Ông dành tình yêu thương cho tất cả những gì bình dị, gần gũi của quê hương. Tác giả cũng biết ơn quê hương và những người đã góp phần xây dựng quê hương.
- Nhận xét: tình cảm của tác giả được thể hiện qua hình ảnh, ngôn ngữ mượt mà, giàu chất thơ. Đó là tình cảm chân thành, sâu sắc, mãnh liệt, đáng trân trọng, tự hào và ngợi ca.
Dạng câu hỏi phát hiện và lí giải các giá trị văn hóa, triết lý nhân sinh của văn bản
Câu hỏi: Tác giả đã khẳng định điều gì qua câu văn: “Lịch sử đổi thay, con người đi qua, những những thành phố còn lại”.
Trả lời:
Câu văn: “Lịch sử đổi thay, con người đi qua, nhưng những thành phố còn lại” đã khẳng định: “đổi thay”, “đi qua”, “còn lại” không chỉ là những động từ thể hiện sự biến đổi, dịch chuyển hay sự tiếp tục mà còn ẩn chứa sự đối lập giữa sự trôi chảy, biến đổi với sự bất biến, trường tồn.
-Qua đó, tác giả muốn khẳng định với chúng ta về sự trường tồn, bất biến của những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của thành phố Huế nói riêng và các thành phố khác nói chung. Thời gian vận động, biến đổi không ngừng, các giai đoạn lịch sử sẽ khác đi, các thế hệ con người cũng sẽ thay đổi nhưng vẻ đẹp về văn hóa, cảnh sắc, cốt cách con người Huế thì vẫn còn mãi. Từ đó mỗi chúng ta hãy giữ gìn, bảo vệ những giá trị văn hóa của đất nước.
Ví dụ 3:
…(1) Và một đêm, bị bà tôi mắng nhiếc tàn tệ, tôi uất ức thầm thì khóc tới một hai giờ. Rồi nhọc quá, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không rõ. Thoát khỏi những sự đau tủi giày vò, tâm hồn tôi lại trở nên thư thái đi vào một cảnh mộng rất tươi sáng.
- Đó là một buổi tối tôi đi học thêm ở nhà một người bạn học, trên con đường vắng về nhà. Dưới ánh trăng bàng bạc bỗng hiện ra một bóng người mảnh dẻ, nhẹ bước trên bóng những cành lá xoan tây mờ mờ xao động suốt dải đường nhựa lập loáng. Tôi vội chạy theo, nhưng không kêu gọi. Bóng người liền quay lại.Tôi thoáng thấy hai con mắt long lanh trên gương mặt trắng mát chiếu lên nhìn tôi. Trước chiều gió, những sợi tóc bay xoã ra như tơ, pháp phới dưới vành trăng ngọc.
- Tôi vội nắm lấy hai cánh tay ẻo lả của người con gái nhỏ tuổi ấy giơ ra đón tôi như trao cho tôi, muốn đưa đi chạy nhảy, múa hát hay nô đùa thế nào thì muốn. Bao nhiêu phút giờ không rõ, tôi và cô bé có một da thịt ấm áp và những tiếng nói âu yếm thơm tho kia đầu tựa vào vai nhau, im lặng trong con mắt nhìn thẫn thờ như xót thương, như san sẻ, chia đắp cho nhau. Không biết trong lòng cô bé đó có những cảm tưởng gì đương nảy nở. Riêng tôi, tôi thấy hồi hộp, ngực lạnh hẳn đi.
- Tôi chẳng còn nghĩ đến cảnh đời đày đoạ của tôi nữa. Lắm phen tôi muốn cất một tiếng nói bên tai cô, nhưng vừa trông qua vẻ mặt dịu hiền với đôi mắt lặng lẽ và những sợi tóc nhẹ nhàng phấp phới kia, tôi lại run sợ, ngồi Dần dần, tôi thiu thiu ngủ trong đôi mắt và hơi thở của cô bé mảnh dẻ. Trên bờ đê, ở chỗ chúng tôi ngồi, những vụn lá xoan vàng luôn luôn bay lên, tản mạn ra các nơi. Đồng thời lại có những vụn lá khác như bụi của vành trăng trong biếc loang loáng rơi xuống, rắc cả lên mái tóc chúng tôi và bay cả vào lòng chúng tôi.
- Thu – tên cô bé mảnh dẻ dịu dàng đã sống với tôi những giây phút êm đềm trong mơ ấy – là một cô học trò bằng trạc tôi. Hàng ngày Thu cùng với tôi đi về một đường. Trường học Thu cách trường học tôi chưa đầy một trăm thước, cách nhau có một bờ hè, một đầu đường và một hàng cây. Muốn tránh sự lôi thôi xảy ra cho bọn trò nhỏ (bao giờ gây lỗi cũng là bọn trò trai) bà đốc trường Thu bao giờ cũng để học trò mình về sau. Nhưng tôi cứ lùi lại để gặp Thu, hoặc đứng dưới mái hiên ở đầu đường chờ Thu đi qua.
(Trích Trong đêm đông, Những ngày thơ ấu, Nguyên Hồng, Nxb. Văn hóa thông tin, 2006, tr.63- 65)
Dạng câu hỏi phân tích được những đặc điểm của hình tượng trung tâm trong phóng sự, hồi kí, nhật kí; lí giải được vai trò, ý nghĩa của hình tượng này trong tác phẩm
Câu hỏi: Nếu ý nghĩa hình tượng nhân vật tôi trong đoạn trích trên,
Trả lời+ Nhân vật tôi là nhân vật trung tâm của đoạn trích trên. Nhân vật tôi không nhận được tình yêu thương của những người trong gia đình. Bởi vậy mà nhân vật luôn thiếu thốn tình cảm, luôn hi vọng có người che chở, yêu thương và sẻ chia cùng mình.
+ Ý nghĩa: Qua nhân vật tôi, nhà văn bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của mình thời thơ ấu và những khao khát giản dị, đời thường; làm cho câu chuyện kể lại thêm phần chân thực, sinh động.
Dạng câu hỏi phân tích, lí giải một số thủ pháp nghệ thuật như: miêu tả, trần thuật; sự kết hợp chi tiết, sự kiện hiện thực với trải nghiệm, yếu tố chủ quan của người viết trong việc thể hiện nội dung văn bản
Câu hỏi: Phân tích sự kết hợp 2 thủ pháp nghệ thuật miêu tả và trần thuật ở đoạn (1) và (2) của văn bản trên.
Trả lời:
- Thủ pháp trần thuật: kể về việc một đêm nhân vật tôi bị bà mắng. Nhân vật tôi khóc tới một hai giờ, rồi nhọc quá và ngủ thiếp đi. Nhân vật tôi đi vào một cảnh mộng. Đó là một buổi tối đi học thêm ở nhà một người bạn học, trên con đường vắng về nhà.
- Thủ pháp miêu tả: Dưới ánh trăng bàng bạc hiện ra một bóng người mảnh dẻ, nhẹ bước trên bóng những cành lá xoan tây mờ mờ xao động suốt dải đường nhựa lấp loáng… Tôi thoáng thấy hai con mắt long lanh trên gương mặt trắng mát chiếu lên nhìn tôi. Trước chiều gió, những sợi tóc bay xõa ra như tơ, phấp phới dưới vành trăng ngọc.
- Vai trò của sự kết hợp thủ pháp trần thuật, miêu tả và tự sự giúp cho sự kiện nhân vật tôi bị bà mắng nhiếc thậm tệ và hình tượng nhân vật tôi hiện lên một cách rõ ràng, sinh động. Nhân vật tôi là người thiếu thốn tình cảm, tuổi thơ không mấy tươi đẹp. Qua nhân vật tôi, tác giả khơi gợi sự cảm thông, sẻ chia nơi người đọc.
Câu hỏi: Sự kết hợp chi tiết, sự kiện hiện thực với trải nghiệm, yêu tố chủ quan của người việt trong đoạn (1) của văn bản trên có vai trò gì?
Trả lời:
- Chi tiết sự kiện hiện thực với trải nghiệm: Và một đêm, bị bà tôi mắng nhiếc tàn tệ, tôi uất ức thầm thì khóc tới một hai giờ. Rồi nhọc quá, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không rõ.
- Yếu tố chủ quan: Thoát khỏi những sự đau tủi giày vò, tâm hồn tôi lại trở nên thư thải đi vào một cảnh mộng rất tươi sáng.
- Vai trò sự kết hợp chi tiết, sự kiện hiện thực với trải nghiệm, yếu tố chủ quan: giúp cho người đọc thấy được nhân vật tôi là người có số phận bất hạnh, khổ cực, thiếu thốn tình cảm của người thân, nhạy cảm và luôn khao khát được yêu thương. Qua đoạn trích ta thấy được những vấn đề mang ý nghĩa xã hội sâu sắc.
Dạng câu hỏi phân tích và đánh giá được sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của văn bản
Câu hỏi: Phân tích sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích.
Trả lời:
Người kể chuyện là tác giả – nhân vật tham gia vào câu chuyện và kể lại câu chuyện ở ngôi thứ nhất xưng tôi. Điểm nhìn từ bên trong nhân vật.
Tác dụng:
+ Giúp người đọc hiểu sâu được thế giới nội tâm nhân vật. Làm cho câu chuyện trở nên chân thực.
+ Phù hợp trong việc thể hiện chủ đề của văn bản đó là khao khát được yêu thương, sẻ chia, cảm thông của trẻ thơ.

[…] Phần tiếp theo: Phương pháp đọc hiểu văn bản Kí (mức độ Thông hiểu) […]