Công thức Tài liệu đọc hiểu

KĨ NĂNG TRẢ LỜI 10 CÂU HỎI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN KỊCH

KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN KỊCH

MỘT SỐ DẠNG CÂU HỎI VÀ CÁCH TRẢ LỜI

NHỮNG KĨ NĂNG, KINH NGHIỆM KHI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN KỊCH

– Khi đọc kịch phải chú ý kịch viết ra không phải là để đọc mà là để diễn.

– Nắm bắt được diễn biến, kết cấu của vở kịch, hồi kịch, từ đó chỉ ra những xung đột của kịch.

– Chú ý những đoạn đối thoại của các nhân vật, đọc diễn cảm ở những lời độc thoại của nhân vật để thấy rõ nội tâm nhân vật, suy tư, cảm xúc của nhân vật.

– Dùng bút nhớ gạch chân các lời thoại, hay hành động kịch mà người học cảm thấy tâm đắc, có ý nghĩa bộc lộ nội dung, tư tưởng.

– Khi đọc hiểu văn bản kịch, các em cần chú ý:

+ Nắm được cốt truyện của văn bản kịch.

+ Xác định được nhân vật trung tâm trong mối quan hệ với các nhân vật khác trong văn bản kịch.

+ Xác định được những mâu thuẫn không thể hoá giải (mâu thuẫn bên trong nhân vật, mâu thuẫn giữa khát vọng của nhân vật với thực tiễn đời sống). Những mâu thuẫn này được thể hiện qua ngôn ngữ, hành động, tâm trạng…. của nhân vật như thế nào?

+ Quan tâm đến các chỉ dẫn sân khấu để hiểu rõ hơn về bối cảnh, hành động và tâm trạng của nhân vật.

– Trong bi kịch, nhân vật bi kịch thường mang trong mình những mâu thuẫn không thể giải quyết giữa khát khao cao cả và những lỗi lầm không thể tránh khỏi. Vì vậy việc phân tích nhân vật bi kịch chính là tìm hiểu, cắt nghĩa, lí giải bi kịch của nhân vật đó. Nhân vật bi kịch thường có kết thúc bi thảm, vì vậy cần thấy được ý nghĩa thức tỉnh hay dự báo về một điều gì đó tốt đẹp hơn sẽ nảy sinh trong cuộc sống và trong mỗi người. – > Nhận biết và phân tích được chủ đề, thông điệp mà VB muốn gửi đến người đọc.

MỨC ĐỘ NHẬN BIẾT

Dạng 1. Nhận biết được cốt truyện trong đoạn trích kịch

Cách trả lời:

– Căn cứ vào các sự việc chính trong đoạn trích

– Cốt truyện của văn bản/ đoạn trích trên là:…(kể lại ngắn gọn các sự việc chính theo trình tự thời gian hoặc trình tự sự việc trước – sau).

Dạng 2. Nhận biết được nhân vật chính của đoạn trích kịch

Cách trả lời:

– Căn cứ vào vai trò của nhân vật với cốt truyện và tần suất xuất hiện của nhân vật.

– Nhân vật chính trong đoạn trích trên là:….

Dạng 3. Xác định tình huống kịch

Cách trả lời:

– Căn cứ vào sự việc xảy trong đoạn trích.

– Tình huống kịch của đoạn trích là: …(nêu tình huống: xảy ra với ai? xảy ra khi nào? Sự việc là gì?)

Dạng 4. Xác định mâu thuẫn/ xung đột kịch

Cách trả lời:

– Căn cứ vào sự mâu thuẫn giữa các nhân vật trong đoạn trích

– mâu thuẫn/ xung đột kịch của đoạn trích là:… (Nêu xung đột)

MỨC ĐỘ THÔNG HIỂU

Dạng 1. Phân tích được ý nghĩa của xung đột kịch

Cách trả lời:

+ Chỉ ra xung đột kịch.

+ Phân tích tác dụng của xung đột kịch:

++ Tạo kịch tính, hồi hộp, thu hút người đọc, người xem

++ Góp phần thể hiện tính cách, phẩm chất nhân vật, phơi bày thực trạng đời sống.

Dạng 2. Phân tích, đánh giá được đặc điểm của nhân vật kịch

Cách trả lời:

+ Nêu được đặc điểm của nhân vật cần phân tích(ngoại hình, hành động, ngôn ngữ, tính cách, phẩm chất)

+ Phân tích, đánh giá được đặc điểm của nhân vật:

++ Khẳng định được bản chất của nhân vật.

++ Góp phần thể hiện chủ đề của văn bản, gửi gắm thông điệp tới người đọc, người xem, thể hiện tài năng của tác giả.

Dạng 3. Phân tích được thái độ của tác giả

Cách trả lời:

+ Chỉ ra thái độ của tác giả đối với vấn đề được nêu ra từ tác phẩm (đồng tình, trân trọng, ngợi ca; đả kích, lên án, tố cáo).

+ Nhận xét thái độ của tác giả: Đó là thái độ đúng đắn, góp phần định hướng cho lối sống, suy nghĩ, tư tưởng thẩm mĩ

MỨC ĐỘ VẬN DỤNG

Dạng 1. Nêu giá trị của hiệu ứng thanh lọc (Rút ra thông điệp/bài học từ đoạn trích).

Cách trả lời:

+ Nêu thông điệp

+ Phân tích ý nghĩa của thông điệp.

Dạng 2. Thể hiện thái độ đồng tình hoặc không đồng tình với các vấn đề đặt ra trong đoạn trích

Cách trả lời:

+ Thể hiện thái độ đồng tình hoặc không đồng tình hoặc đồng tình một phần với vấn đề

+ Giải thích.

Dạng 3. Đánh giá tác động của văn bản đối với cách nhìn của bản thân về cuộc sống

Cách trả lời:

+ Chỉ ra vấn đề của đời sống được đặt ra trong văn bản.

+ Nêu tác động của vấn đề tới bản thân (giúp thay đổi quan niệm sống, cách nhìn nhận về con người, cuộc đời, bồi đắp tư tưởng, tình cảm,…)

ĐỀ MINH HỌA VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM

ĐỀ 1

PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau :

THẦY TRIẾT:  (Vừa đi vừa đính lại miếng vải đeo ở cổ áo) – Ta vào bài học nào.

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Chà, Thầy ạ, tôi rất buồn lòng thấy thầy bị họ đánh đập.

THẦY TRIẾT: – Không hề gì. Một nhà hiền triết biết tiếp thu sự vật một cách phải lẽ, để rồi tôi sẽ soạn một bài văn trào phúng theo Juvenan đả kích cho họ tơi bời một phen. Thôi ta hãy gác chuyện đó, ngài muốn học gì?

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Học tất cả những cá gì tôi có thể học được, vì tôi hết sức thèm muốn trở thành người bác học, và tôi tức giận rằng bố mẹ tôi đã không cho tôi học hành tử tế tất cả các khoa học, khi tôi còn trẻ tuổi.

THẦY TRIẾT: – Nam sine doctrina vita quái mortis imago. Ngài hiểu câu đó chứ, và hẳn là ngài biết tiếng La – tinh chứ?

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Có, nhưng thầy cứ làm như tôi không biết. Thầy cứ giảng cho tôi cái nghĩa của câu đó đi.

THẦY TRIẾT: – Câu đó có nghĩa là nếu không có học thực thì đời sống cũng gần như hình ảnh của cái chết.

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Cái La- tinh ấy nó nói phải đấy?

THẦY TRIẾT: – Hẳn là ngài cũng biết một vài nguyên lí, một vài kiến thức sơ bộ về khoa học chứ?

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – À, có chứ. Tôi biết đọc và biết viết.

THẦY TRIẾT: – Ý ngài muốn chúng ta bắt đầu bằng môn gì? Ngài có muốn tôi dạy ngài Logic học không?

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Cái Logic học ấy là cái gì?

THẦY TRIẾT: – Nó dạy ta ba phép vận dụng của trí tuệ.

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Ba phép vận dụng của trí tuệ là những phép gì?

THẦY TRIẾT: – Phép thứ nhất, phép thứ hai và phép thứ ba. Phép thứ nhất là phải quan niệm cho tốt bằng những khái niệm phổ biến; phép thứ hai là phải chẩn đoán cho tốt bằng những phạm trì; và phép thứ ba là phải kết luận cho tốt bằng những biến thể của tam đoạn luận. [….]

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Những tiếng đó nghe trối quá. Cái Logic học ấy, tôi không thích. Thầy hãy dạy cho tôi cái gì khác, cho nó hay hay một tí.

THẦY TRIẾT: – Ngài có muốn học Luân lí học không?

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Luân lí học?

THẦY TRIẾT: – Vâng.

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Cái luân lí học ấy nó nói những cái gì?

THẦY TRIẾT: – Nó luận về hạnh phúc, nó dạy cho người ta biết tiết chế dục vọng, và…

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Thôi, hãy gác cái đó lại. Tôi tính nóng như thiên lôi, chả có luân lí nào ăn thua gì, tôi muốn nổi giận cho hả hê khi nào tôi thích.

THẦY TRIẾT: – Hay là ngài muốn học về Cách vật học?

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Cái Cách vật học ấy nó nói những cái gì?

THẦY TRIẾT: – Cách vật học là một môn học nó giải thích các nguyên lí của các vật tự nhiên, các các thuộc tính vật chất; nó bàn về bản chất các nguyên tố, các kim loại, các khoáng chất, các thạch chất, các thực vật và động vật, và dạy cho ta biết các nguyên nhân của tất cả các khí tượng, cầu vồng, lửa ma trơi, sao chổi, chớp, sấm sét, mưa, tuyết, mưa đá, gió và các cơn lốc.

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Nghe mà loạn cả đầu, rối cả óc.

THẦY TRIẾT: – Vậy ngài muốn tôi dạy ngài cái gì?

ÔNG GIUỐC – ĐANH: – Dạy tôi chính tả[1].

(Trích Trưởng giả học làm sang, Molie, NXB Sân khấu, 2006, trang 91 -95)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5

Câu 1.  Cho biết sự kiện chính của văn bản.

Câu 2.  Hình thức lời thoại chủ yếu của văn bản.

Câu 3.  Chỉ ra những lí do khiến ông Giuốc – đanh liên tục thay đổi nguyện vọng được học của mình.

Câu 4.  Phân tích tác dụng của việc sử dụng ngôn ngữ trang trọng trong văn bản trên.

Câu 5.  Theo em việc xây dựng nhân vật người thầy dạy Triết học như một kẻ bịp bợm có phải là sự vi phạm chuẩn mực đạo đức không? Tại sao?

ĐỀ 2

Đọc văn bản sau:

Cảnh I

Ông lão lòa, chị Cả Thuận, anh cả Thuận.

[…]

ÔNG LÃO: – Thế chốc nữa lão Thông Xạ nó quay xe lại thì biết nói thế nào với nó đây? Thôi hai con nghe thầy, nên lánh mặt nó đi, cứ để thầy ở nhà một mình, thầy tìm cách khất khứa với nó, họa may nó thấy mù lòa, ốm yếu, nó có động lòng thương chăng…

CHỊ CẢ: – Lão ấy nó còn thương ai. Nếu nó có lòng thương người, nó đã chẳng xử với mình đến thế.

ÔNG LÃO: – Chả hơn cả ba bố con ngồi trơ ra đây mà tiền không có trả nó, để điên tiết lên nó thẳng tay quăng đồ đạc ra đường hoặc gọi đội xếp thưa bắt hai chúng mày về bóp thì có phải khổ cả không…

CHỊ CẢ: – Nào, thế cậu định ra sao đây?

ANH CẢ: – Định à? Chỉ còn một sống một chết, muốn đằng nào thì muốn, chứ sống ngắc ngoải thì không nên sống. Bàn đến kế tránh mặt nó đi thì không xong rồi. Liệu có tránh được mãi không? Dẫu nó không thưa để mình phải vào bóp mà chỉ vứt đồ ra đường, thì tôi cũng không còn bụng dạ nào làm ăn gì nữa… Ruột gan tôi có phải sắt đá đâu? Giời ơi, nghĩ đến vợ đang dắt bố già lang thang đầu đường xó chợ mà vẫn thản nhiên đi làm cho thằng khác ăn, có là con vật không thương yêu ai, dại như chó thì mới thế được. Mà đi làm về thì ăn vào đâu? Không được ăn mà vẫn đi làm à? Đây này: tôi bây giờ chán cả mọi sự rồi, đi làm tôi cũng không thiết nữa. Phải biết thời buổi này mới được. Tôi mà vô gia cư, tất không thoát tù tội. Vợ tôi mà vô gia cư, tất không thoát được lục sì. Ông mà vô gia cư, rồi người ta sẽ nhét ông vào bọn ăn mày ngoại ô. Sống ngắc ngoải thế này mà vẫn còn tưởng sống.

CHỊ CẢ: – Nông nỗi đã thế này, chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?

[…]

ANH CẢ: – (…) Ăn ở hiền hậu mà cứ vận hạn mãi… Đến thế mà còn tin được Giời, Phật nữa à? (thất vọng). (…) Giời Phật, có để làm gì, hở? Có phải chỉ để làm bù nhìn mặc cho loài người chúng nó ăn thịt nhau, thằng nào xỏ lá, bất nhân, lắm ngón xoay tiền thì được vợ đẹp, con khôn, lên xe xuống ngựa; còn người hiền lành thật thà thì bị lợi dụng, bị đè nén, bị hắt hủi, kiếm chẳng đủ áo mặc cơm ăn có phải không? Có Giời, có Phật mà đến thế à? Không có Giời, Phật nào cả. Hoặc có Giời, có Phật nhưng Giời, Phật không đủ quyền phép thiêng liêng, không công minh, không đáng cho ai kính thờ! Bây giờ ấy à? Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật, chỉ có đồng tiền là đáng kính thờ vì nó sai khiến được mọi người, ai ai cũng phải kính thờ nó mới sống được. Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền! Giời Phật à? Còn kém đồng tiền!

ÔNG LÃO: (không nói được nữa, chỉ kêu): Ôi giời ơi! Để tôi chết đi cho rảnh! Cho tôi chết đi!

CHỊ CẢ: (tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau) – Cậu cứ ở nhà với thầy, tôi đi đằng này một lát.

ANH CẢ: – Định xách chậu đi đâu thế?

CHỊ CẢ: – Để lại cho bác phó. Hôm nọ sang chơi, bác ta có ý muốn mua lại, bây giờ tôi đem sang lấy vài hào về mua bát cháo với lọ dầu cho thầy. Thầy bảo cồn ruột chắc chỉ vì đói quá.

ANH CẢ: – Này, gượm! Người ta bảo đã mà lại. Lúc nãy tôi tạt chơi bên ấy rồi. Hiện bây giờ thằng bé con đang lên sởi, hai vợ chồng chạy thuốc đã méo mặt cả, mua bán gì? Chính tôi cũng còn nợ người ta năm hào mà chưa trả được, lúc nãy vào khất đấy…

CHỊ CẢ: (thất vọng đờ đẫn cả người, ra ngồi đắp chiếu cho bố).

ÔNG LÃO: (nằm trong chiếu, vẫn quằn quại kêu rên) – Ôi giời đất ơi, ôi giời đất ơi!

ANH CẢ: (ứa nước mắt, vùng đứng lên rảo bước ra đến cửa, dừng chân ngẫm nghĩ một lát, quay lại nhìn ông bố, rồi đẩy tung cửa ra đi).

CHỊ CẢ: (đang gục mặt, ngẩng lên nhìn rồi hốt hoảng, vùng dậy chạy theo) – Giời ơi! Cậu lại định đi đâu…Cậu! Cậu…Giời ơi, thầy ơi thầy, rõ khổ chưa!

ÔNG LÃO: (tung đống chiếu ra, lật đật ngồi lên gọi) – Ới cả! Ới Thuận!!! (vùng lên chạy ba bước, rồi lả người đi) con mau chạy theo gọi nó lại cho thầy (ngã gục xuống đất).

CHỊ CẢ: (nửa muốn chạy đi gọi chồng, nửa muốn lại nâng bố lên, luống cuống, sau cùng thì quay lại đỡ bố) – Thầy ơi, thầy ngã có đau không? Rõ khổ!

ÔNG LÃO: (khặc khừ, lắc đầu, lả đi)

CHỊ CẢ: (tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố, dẫn lại chỗ chõng tre, để cho ông lão ngồi được yên rồi lả xuống cạnh đấy bất tỉnh nhân sự).

(Trích vở bi kịch nhân sinh Không một tiếng vang, Vũ Trọng Phụng, in trong

Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, Tr.358-364)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn)

Câu 1: Những nhân vật nào xuất hiện trong đoạn trích?

Câu 2: Theo chị Cả thì lão Thông Xạ là người như thế nào?

Câu 3: Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn văn sau:

“Ăn ở hiền hậu mà cứ vận hạn mãi. Đến thế mà còn tin được Giời, Phật nữa à? (thất vọng). (…) Giời Phật, có để làm gì, hở? Có phải chỉ để làm bù nhìn mặc cho loài người chúng nó ăn thịt nhau, thằng nào xỏ lá, bất nhân, lắm ngón xoay tiền thì được vợ đẹp, con khôn, lên xe xuống ngựa; còn người hiền lành thật thà thì bị lợi dụng, bị đè nén, bị hắt hủi, kiếm chẳng đủ áo mặc cơm ăn có phải không? Có Giời, có Phật mà đến thế à? Không có Giời, Phật nào cả. Hoặc có Giời, có Phật nhưng Giời, Phật không đủ quyền phép thiêng liêng, không công minh, không đáng cho ai kính thờ! Bây giờ ấy à? Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật, chỉ có đồng tiền là đáng kính thờ vì nó sai khiến được mọi người, ai ai cũng phải kính thờ nó mới sống được”.

Câu 4: Anh/ chị có đồng tình với quan điểm của nhân vật Cả Thuận: Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền! Giời Phật à? Còn kém đồng tiền! không? Lí giải vì sao?

Câu 5: Qua đoạn trích, anh chị hãy nhận xét nghệ thuật viết kịch của Vũ Trọng Phụng

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *