Đọc kĩ văn bản sau:
THÁNG NĂM CỦA BÀ
Tháng Năm có đàn chim ngói
về ăn hạt trên cánh đồng bà ngoại
Trời thì xanh như không thể biếc hơn
Cháu đội nón đôi chân trần trên đất
Gặt về phơi cả ba tháng nhọc nhằn
Ba tháng nhọc nhằn nuôi mày lớn lúa ơi
Hoa cỏ may đan chéo bàn chân bà tứa máu
Mồ hôi xuống như là mưa tháng sáu
Lưng bà còng lưng lúa trĩu như nhau
Bà ngoại trồng lúa bà ngoại nhai trầu
Suốt một đời không đi ra ngoài mái đình bến nước.
Nỗi vất vả ấy lấy gì đo được
Như hạt thóc nảy mầm trổ bông
Tháng Năm này cánh đồng bà có nhiều chim ngói không
Lưng bà mỗi ngày lại gần hơn mặt đất
Cháu mong lắm được trở về đi gặt
Phơi giúp bà hạt giống để mùa sau
(Bình Nguyên Trang, Bài hát ngày trở về, NXB Văn học , 2024, tr.85,86)
Câu 1 (0,75 điểm) Xác định thể thơ và cho biết những dấu hiệu hình thức của thể thơ đó biểu hiện trong bài thơ.
Câu 2 (0,75 điểm) Liệt kê những hình ảnh xuất hiện trên cánh đồng bà ngoại vào tháng Năm.
Câu 3 (0,75 điểm) Anh (chị) hiểu nội dung hai câu thơ:
Ba tháng nhọc nhằn nuôi mày lớn lúa ơi
Hoa cỏ may đan chéo bàn chân bà tứa máu
như thế nào?
Câu 4 (0,75điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong hai câu thơ:
Mồ hôi xuống như là mưa tháng sáu
Lưng bà còng lưng lúa trĩu như nhau
Câu 5 (1,0 điểm) Nội dung của hai câu thơ:
Cháu mong lắm được trở về đi gặt
Phơi giúp bà hạt giống để mùa sau
gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì? (Trình bày bằng một đoạn văn có độ dài từ 7-10 câu ).
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI
Câu 1 (0,75 điểm): Thể thơ được sử dụng trong bài thơ là thể thơ tự do. Dấu hiệu hình thức thể hiện rõ qua việc:
- Không bị ràng buộc bởi số câu, số chữ hay niêm luật.
- Các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, nhịp điệu linh hoạt.
- Cách ngắt nhịp tự nhiên, phù hợp với cảm xúc và nội dung biểu đạt.
Câu 2 (0,75 điểm): Những hình ảnh xuất hiện trên cánh đồng bà ngoại vào tháng Năm gồm:
- Đàn chim ngói về ăn hạt.
- Cánh đồng lúa.
- Trời xanh biếc.
- Cháu đội nón, đi chân trần.
- Hoa cỏ may.
- Mồ hôi rơi như mưa tháng sáu.
- Lúa trĩu hạt.
- Bà gặt lúa, lưng còng.
Câu 3 (0,75 điểm): Hai câu thơ thể hiện sự vất vả, hy sinh thầm lặng của bà trong suốt ba tháng chăm sóc lúa.
- “Ba tháng nhọc nhằn nuôi mày lớn lúa ơi” là lời gọi thân thương, như bà đang trò chuyện với cây lúa – kết quả của bao công sức.
- “Hoa cỏ may đan chéo bàn chân bà tứa máu” diễn tả hình ảnh chân thực, đau đớn: bà phải đi lại nhiều trên đồng, bị cỏ may làm xước chân đến chảy máu. → Qua đó, người đọc cảm nhận được sự gian khổ, kiên trì và tình yêu lao động của người bà.
Câu 4 (0,75 điểm): Biện pháp tu từ so sánh trong hai câu thơ có tác dụng:
- “Mồ hôi xuống như là mưa tháng sáu” giúp hình ảnh mồ hôi trở nên sống động, thể hiện sự lao động cực nhọc, mồ hôi đổ nhiều như mưa mùa hè.
- “Lưng bà còng lưng lúa trĩu như nhau” là phép so sánh đầy cảm xúc, gợi liên tưởng giữa hình ảnh bà và cây lúa – cả hai đều mang nặng, đều trĩu xuống vì gánh nặng của thời gian và mùa vụ. → Tăng tính biểu cảm, khắc họa sâu sắc sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên.
Câu 5 (1,0 điểm): Hai câu thơ thể hiện nỗi niềm thương nhớ và lòng biết ơn của người cháu đối với bà. Cháu mong được trở về quê, cùng bà tham gia vào công việc đồng áng, gặt lúa và phơi hạt giống cho mùa sau. Điều đó không chỉ là hành động giúp đỡ, mà còn là sự tiếp nối truyền thống, trân trọng giá trị lao động và tình cảm gia đình. Hình ảnh “hạt giống để mùa sau” cũng mang ý nghĩa biểu tượng: đó là sự gìn giữ, vun đắp cho tương lai, cho ký ức và tình yêu thương. Người cháu không chỉ nhớ bà, mà còn muốn góp phần gìn giữ những giá trị quê hương. Qua đó, bài thơ khơi gợi tình cảm gia đình sâu sắc, lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với truyền thống.