| ĐỀ | ĐỌC HIỂU
VB TRUYỆN |
ĐOẠN NLVH | BÀI NLXH | HDC (Trang) |
| 1 | Trái tim hổ | Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của chàng Khó (VB truyện) | Tầm nhìn của thế hệ trẻ trong thời đại ngày nay | 27 |
| 2 | Tiếng chim kêu | Phân tích đặc sắc nội dung và nghệ thuật (VB truyện) | Người trẻ cần học cách sống tử tế | 29 |
| 3 | Mảnh trăng cuối rừng | Cảm nhận nỗi nhớ của NVTT (VB thơ) | Chiến tranh | 32 |
| 4 | Đường đến chân trời | Phân tích, đánh giá tình huống truyện (VB truyện) | Nếu bố mẹ hi sinh cho con… | 35 |
| 5 | Trái tim hổ | Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu (VB thơ) | Những thách thức
trong cuộc sống |
37 |
| 6 | Bầy chim trở về | Cảm nhận về thời khắc giao mùa trong Sang thu (VB thơ) | Ứng xử đúng đắn khi đối diện với thất bại | 40 |
| 7 | Gọi con | Phân tích vẻ đẹp của người mẹ (VB truyện) | Kì vọng của cha mẹ -bệ phóng cho sự thành công | 43 |
| 8 | Con thú lớn nhất | Phân tích nhân vật lão thợ săn (VB truyện) | Làm thế nào để tạo cơ hội cho chính mình? | 46 |
| 9 | Con thú lớn nhất | Cảm nhận về chi tiết
(VB truyện) |
Khoảng cách thế hệ trong gia đình qua góc nhìn người trẻ | 49 |
| 10 | Tiếng đáy | Phân tích nghệ thuật sử dụng hình ảnh trong thơ | Người trẻ nên sống với ước mơ hay kỳ vọng | 53 |
| 11 | Ông ngoại | Thay đổi trong tính cách, tâm hồnDung (VB truyện) | Cách ứng xử khi đối diện với thất bại | 55 |
| 12 | Mảnh trăng cuối rừng | Cảm nhận về nhân vật Nguyệt (VB truyện) | Thách thức là điều làm cho cuộc sống trở nên thú vị… | 58 |
| 13 | Dì Hảo | Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí Dì Hảo (VB truyện) | Tinh thần lạc quan | 60 |
| 14 | Chỗ nào cũng nắng | Tình cảm của người con trong bài thơ | Tự bảo vệ mình trước thông tin xấu và lừa đảo trên mạng
|
63 |
| 15 | Gọi con | Vẻ đẹp phẩm chất nhân vật
(VB truyện) |
Tư duy số đông | 67 |
ĐỀ THAM KHẢO SỐ 1
PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
TRÁI TIM HỔ
Lược một đoạn: Trong bản Hua Tát, có một cô gái xinh đẹp tên là Pùa, nhưng Pùa lại bị liệt đôi chân, suốt năm suốt tháng nằm một chỗ. Năm Pùa mười sáu tuổi, trong rừng xuất hiện một con hổ dữ khiến cả bản sống trong nơm nớp lo âu…
[…] Người ta đồn con hổ có trái tim khác thường, trái tim nó chỉ bằng hòn sỏi và trong suốt. Trái tim ấy là bùa hộ mệnh, cũng là vị thuốc thần. Ai có trái tim ấy sẽ được may mắn, giàu sang suốt cả cuộc đời. Trái tim ấy nếu đem ngâm rượu sẽ chữa được mọi thứ bệnh hiểm nghèo. Liệt chân như Pùa, uống thứ thuốc ấy cũng sẽ khỏi được.
Tin đồn như con chim cắt chuyền khắp thung lũng. Ở bếp lửa, chân quản, dưới suối, trên nương, đâu đâu người ta cũng nói về trái tim hổ. Tin đồn bay xuống cả vùng đồng bằng của người Kinh, bay lên cả đỉnh núi cao của người Mông. Tin đồn bao giờ cũng thế, qua miệng của những kẻ ngu dốt thì quái lạ thay, thường thú vị hơn qua những con người từng trải.
Có rất nhiều người đi săn con hổ. Có người Thái, người Kinh, người Mông… Người thì muốn săn hổ để lấy trái tim làm bùa hộ mệnh, người thì muốn lấy trái tim hổ làm thuốc. Trách họ thế nào được? Đời người ta, ai đã chẳng từng săn đuổi bao nhiêu phù du?
Trong đám thợ săn, đông nhất là đám con trai bản Hua Tát. Họ muốn lấy được trái tim hổ để về chữa bệnh cho Pùa.
Việc săn hổ kéo dài gần hết mùa đông. Nhưng, như có phép lạ, con hổ tinh khôn biết tránh những nơi người ta phục nó. Những người đi săn bị nó săn lại. Hơn mười người chết vì con hổ dữ. Tiếng khóc than lẫn với tiếng gió hú dài âm âm trong bản. Người ta nản chí dần, số người đi săn rụng nhanh như bứa chín cây, cuối cùng chỉ còn một người. Người ấy là Khó.
Khó là trai bản Hua Tát. Chàng mồ côi cha mẹ, sống như con don con dim. Con don, con dim sống lủi thủi, đi con đường riêng, ăn uống thế nào không ai biết được. Khó chẳng bao giờ tham dự những cuộc họp mặt, hội hè ở bản. Phần vì Khó nghèo, phần Khó xấu trai. Chàng bị đậu mùa, mặt rỗ chằng chịt. Người Khó dị dạng: hai tay dài chấm đầu gối, đôi chân khẳng khiu lúc nào đi cũng như chạy. Con don, com dim có đi bao giờ?
Thấy Khó đi săn nhiều người ngạc nhiên. Người ta lại càng ngạc nhiên thấy Khó săn hổ không phải để lấy bùa phép may mắn cho chàng mà để lấy thuốc về chữa cho Pùa. Đêm đêm, họ thấy Khó đứng dưới chân sàn nhà Pùa nhìn lên như kẻ si tình, cũng giống như tên ăn trộm.
Người bản Hua Tát không biết Khó đi con đường nào tìm vết hổ. Đường của con don, con dim hổ cũng không biết. Con hổ thấy sự nguy hiểm. Nó thay đổi chỗ ở, thay đổi đường đi. Khó và con hổ săn nhau từng giờ…
Một đêm, người ta đang ngồi kể chuyện ở sàn nhà Pùa thì nghe thấy tiếng súng nổ. Tiếng súng kíp âm âm như tiếng sấm. Có tiếng hổ gầm dữ dội vang trong khe núi.
– Hổ chết rồi ! Đúng Khó bắn chết hổ rồi ! Cả bản kinh hoàng xôn xao như rừng gặp bão. Người ta reo hò. Nhiều người vừa reo vừa trào nước mắt. Trai bản đốt đuốc lên rừng tìm Khó.
Gần sáng, người ta mới tìm thấy Khó và xác con hổ đã chết. Cả hai lăn xuống vực sâu dưới suối. Khó bị gãy lưng, mặt chàng đầy vết cào cấu của hổ. Con hổ bị bắn toác đầu. Viên đạn bắn gần xé rách trán hổ xuyên vào tận óc.
Nhưng, điều kỳ lạ nhất là ngực con hổ đã bị rạch đi, trái tim của nó không còn đấy nữa. Vết rạch bằng dao còn mới, máu bết hai bên vết rạch chảy ròng ròng, sủi thành bọt như bong bóng. Đã có kẻ nào đánh cắp trái tim con hổ!
Tất cả trai bản Hua Tát lặng im, cúi gầm mặt xuống. Họ hổ thẹn, căm giận, chua xót.
Hơn mười người chết trong mùa đông ấy vì con hổ dữ. Thêm hai người nữa chết sau câu chuyện đó. Hai người ấy là Pùa và Khó…
Người bản Hua Tát đã chôn con hổ ngay chỗ nó chết. Không ai nhắc lại huyền thoại về sự mầu nhiệm của trái tim hổ. Người ta đã quên nó đi như quên bao điều cay đắng xảy ra trên thế gian này. Điều ấy cũng cần…
(1971, Những ngọn gió Hua Tát, Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn học, 2003, tr. 276-279)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 2. Nêu lý do khi thấy Khó đi săn nhiều người lại ngạc nhiên.
Câu 3. Lí giải vì sao câu văn in đậm dưới đây không mắc lỗi logic:
“Khó chẳng bao giờ tham dự những cuộc họp mặt, hội hè ở bản. Phần vì Khó nghèo, phần Khó xấu trai. Chàng bị đậu mùa, mặt rỗ chằng chịt. Người Khó dị dạng: hai tay dài chấm đầu gối, đôi chân khẳng khiu lúc nào đi cũng như chạy. Con don, com dim có đi bao giờ?”
Câu 4. Nêu tác dụng của các yếu tố kì ảo trong truyện.
Câu 5. Nhận xét giá trị tư tưởng mà tác giả gửi gắm qua văn bản Trái tim hổ đối với đời sống hiện nay.
PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm).
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chàng Khó trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm).
“Thế giới ngày mai thuộc về những người có tầm nhìn hôm nay.” (Robert Schuller)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về tầm nhìn của thế hệ trẻ trong thời đại ngày nay.