Thi tốt nghiệp

Đọc hiểu thi tốt nghiệp: Phút dành cho con ( Kent Nerburn)

ĐỀ ĐỌC HIỂU

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Phút dành cho con ( Kent Nerburn)

Đọc đoạn trích sau:

Để có được tri thức thật sự, mỗi ngày trôi qua con cần mở rộng lòng mình để hướng đến sự phong phú của cuộc sống – hướng đến cảm xúc riêng, đến sự chuyển động của bầu trời và ngôn ngữ của các loài chim, đến những thiếu thốn và no đủ của mọi người ở bất kỳ thời gian và địa điểm nào, đến bàn tay tài hoa của những người thợ cơ khí, sự cần mẫn của nhân viên đánh máy tính hay sự thơ ngây của những đứa trẻ. Không có giới hạn cho việc trau dồi tri thức qua những gì xuất hiện trước mắt ta.

 Tuy nhiên, việc tiếp cận tri thức cũng phát sinh nhiều ý kiến ngược chiều.

Nhiều người cho rằng cách tiếp nhận và trau dồi trí thức tốt nhất là cứ bước mông lung về phía trước, nơi những bí ẩn của cuộc sống sẽ tự tạo ra những bài học cho bản thân mỗi người.

Trong khi những người khác lại tin rằng chúng ta sẽ tiếp thu tri thức vững chắc nhất nếu được truyền đạt đầy đủ những kiến thức về một chủ đề nào đó, sau đó mới bắt đầu việc thực hành và sử dụng những kiến thức đã được cung cấp này vào thực tế.

Chúng ta có thể vận dụng đồng thời cả hai cách kể trên trong cuộc sống, không nên nghiêng hẳn về một phương pháp nào. Nhà hiền triết người Trung Quốc – Khổng Tử, đã nói với các môn đồ của mình: “Học mà không nghĩ chẳng khác gì mù lòa, nhưng suy nghĩ mà không có kiến thức thì thật nguy hiểm”.  

 (Kent NerburnThục Nhi dịch, Phút dành cho con, NXB Tổng hợp TP HCM, 2020, Tr. 41 – 42)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2. Chỉ ra những ý kiến ngược chiều trong việc tiếp nhận tri thức được tác giả đề cập ở đoạn trích.

Câu 3. Nêu tác dụng của phép liệt kê được sử dụng trong đoạn văn in đậm.

Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về câu nói của Khổng Tử: Học mà không nghĩ chẳng khác gì mù lòa, nhưng suy nghĩ mà không có kiến thức thì thật nguy hiểm?

Câu 5. Từ nội dung đoạn trích, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) bàn về hậu quả của việc học mà không nghĩ.

HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU 6,0
  1 Phương thức biểu đạt chính: Phương thức Nghị luận/ Nghị luận 0,75
  2 Những ý kiến ngược chiều trong việc tiếp nhận tri thức:

– Nhiều người cho rằng cách tiếp nhận và trau dồi trí thức tốt nhất là cứ bước mông lung về phía trước, nơi những bí ẩn của cuộc sống sẽ tự tạo ra những bài học cho bản thân mỗi người.

– Trong khi những người khác lại tin rằng chúng ta sẽ tiếp thu tri thức vững chắc nhất nếu được truyền đạt đầy đủ những kiến thức về một chủ đề nào đó, sau đó mới bắt đầu việc thực hành và sử dụng những kiến thức đã được cung cấp này vào thực tế.

0,75
  3 Tác dụng của phép liệt kê:

– Liệt kê biểu hiện sự phong phú của cuộc sống mà con người cần hướng đến trong quá trình tiếp nhận tri thức: cảm xúc riêng, sự chuyển động của bầu trời, ngôn ngữ của các loài chim, những thiếu thốn và no đủ của mọi người, bàn tay tài hoa của những người thợ cơ khí, sự cần mẫn của nhân viên đánh máy tính, sự thơ ngây của những đứa trẻ.

– Tác giả nhấn mạnh quan điểm tiếp nhận tri thức không có giới hạn; muốn có tri thức cần mở rộng tầm nhìn, mở rộng đối tượng tiếp nhận.

– Góp phần làm cho đoạn văn giàu nhạc điệu, gợi hình, gợi cảm, tăng sức thuyết phục,

1,0
  4 Nội dung của câu nói:

– Thể hiện quan điểm về việc học của Khổng Tử: Học mà không suy nghĩ sẽ không hiểu được ý nghĩa sâu xa, không biết áp dụng đúng đắn kiến thức vào thực tiễn; suy nghĩ mà không học thì thiếu cơ sở vững chắc, dễ đi sai hướng, xa rời hiện thực. Vì vậy, cần kết hợp cả học và suy nghĩ.

– Bộc lộ tầm nhìn vĩ mô, sâu sắc của tác giả.

1,0
  5 Viết một đoạn văn bàn về hậu quả của việc học mà không nghĩ. 2,5
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn 0,25

0,25

 

1,5

0,25

 

0,25

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: hậu quả của việc học mà không nghĩ.
c. Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai nhưng phải lí giải được vấn đề, có thể theo hướng sau:

– Học mà không nghĩ sẽ không hiểu được gốc rễ sâu xa của kiến thức; học máy móc, tin sách vở một cách mù quáng; khó áp dụng kiến thức vào thực tế nhất là khi điều kiện xã hội thay đổi; không phát huy được giá trị của học vấn trong quá trình phát triển xã hội, …

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có dẫn chứng, cách diễn đạt mới mẻ.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *