Công thức Tài liệu đọc hiểu

KỸ NĂNG TRẢ LỜI 17 DẠNG CÂU HỎI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN/ TIỂU THUYẾT

KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN/ TIỂU THUYẾT

 

  1. MỘT SỐ DẠNG CÂU HỎI VÀ CÁCH TRẢ LỜI

MỨC ĐỘ NHẬN BIẾT

Dạng 1. Xác định ngôi kể trong văn bản

Để xác định được ngôi kể cần nắm được:

+ Người kể chuyện ngôi thứ nhất là người kể xưng “tôi” hoặc một hình thức tự xưng tương đương. Tùy theo mức độ tham gia vào mạch vận động cốt truyện, người kể chuyện ngôi thứ nhất có thể là nhân vật chính, nhân vật phụ, người chứng kiến, người kể lại câu chuyện được nghe từ người khác hay xuất hiện với vai trò tác giả “lộ diện”. Người kể chuyện ngôi thứ nhất thường là người kể chuyện hạn tri (không biết hết mọi chuyện), trừ trường hợp ở vai trò tác giả “lộ diện” vận dụng quyền năng “biết hết” của mình.

+ Người kể chuyện ngôi thứ ba là người kể chuyện ẩn danh, không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm như một nhân vật, không tham gia vào mạch vận động của cốt truyện và chỉ được nhận biết qua lời kể. Người kể chuyện ngôi thứ ba có khả năng nắm bắt tất cả những gì diễn ra trong câu chuyện, kể cả những biểu hiện sâu kín trong nội tâm nhân vật, do vậy có khả năng trở thành người kể chuyện toàn tri (biết hết mọi chuyện), song người kể chuyện ngôi thứ ba có sử dụng quyền năng toàn tri hay không còn tùy thuộc vào nguyên tắc tổ chức truyện kể của từng tác phẩm.

Cách trả lời: Ngôi kể trong văn bản là…

Dạng 2. Xác định được điểm nhìn, sự thay đổi điểm nhìn.

Cách trả lời:

Muốn trả lời được câu hỏi này phải hiểu được một cách khái quát điểm nhìn trần thuật là vị trí, điểm quan sát mà người kể chuyện lựa chọn để kể lại câu chuyện của mình cho người đọc. Có thể phân chia điểm nhìn trong tác phẩm tự sự thành nhiều loại khác nhau như:

+ Điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật được kể.

+ Điểm nhìn bên ngoài (miêu tả sự vật, con người ở những bình diện ngoại hiện, kể về những điều nhân vật không biết).

+ Điểm nhìn bên trong (kể và tả xuyên qua cảm nhận, ý thức của nhân vật).

+ Điểm nhìn không gian (nhìn xa – nhìn gần).

+ Điểm nhìn thời gian (hiện tại, quá khứ).

+ Điểm nhìn mang tính tâm lí, tư tưởng.

Cách trả lời: Điểm nhìn trong văn bản là…

Dạng 3. Xác định đề tài, chủ đề của văn bản

+ Để xác định đề tài, cần trả lời được câu hỏi: Tác phẩm viết về cái gì? (hiện tượng, phạm vi cuộc sống).

+ Để xác định được chủ đề, phải trả lời được câu hỏi: Vấn đề cơ bản mà tác phẩm nêu lên là gì?

+ Cần phân biệt được đề tài và chủ đề.

Đề tài Chủ đề
– Là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm văn học.

– Là phạm vi đời sống được phản ánh, thể hiện trực tiếp trong tác phẩm văn học.

– Một tác phẩm có thể đề cập nhiều đề tài (hệ thống đề tài), trong đó có một đề tài chính.

Ví dụ: Đề tài của tác phẩm Chi Phèo: người nông dân trong hội cũ.

 

 

– Là vấn đề chính mà văn bản biểu đạt (là vấn đề chủ yếu, trung tâm, là phương diện chính yếu của đề tài)

Là con đường mà nhà văn đưa người đọc thâm nhập vào tác phẩm.

– Một tác phẩm có thể có nhiều chủ đề, trong đó có chủ đề chính và chủ đề phụ.

Ví dụ: Chủ đề của tác phẩm Chí Phèo:

Số phận bi thảm của người nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến bị bần cùng hóa, lưu manh hóa. Qua đó, nhà văn Nam Cao đã lên án sâu sắc xã hội tàn bạo, chà đạp lên nhân phẩm con người, đồng thời thể hiện tình thương yêu sâu sắc và niềm tin vào bản chất lương thiện của họ.

Cách trả lời:

+ Với câu hỏi xác định đề tài: trả lời ngắn gọn bằng một cụm từ hoặc câu văn ngắn.

Ví dụ: Đề tài người lính/Đề tài người nông dân/Đề tài quê hương đất nước/Đề tài chiến tranh/Đề tài thiên nhiên/Đề tài người phụ nữ, ..

+ Với câu hỏi xác định chủ đề:

++ Nêu vấn đề cơ bản của đoạn trích/truyện ngắn.

+ Nếu tư tưởng, tình cảm của tác giả.

Dạng 4. Xác định không gian trong văn bản

Cách trả lời:

Để trả lời được câu hỏi này, cần lưu ý những đặc điểm về không gian:

+ Không gian trong thần thoại: không gian vũ trụ nguyên sơ với nhiều cõi khác nhau (cõi trời, cõi đất, cõi nước).

+ Không gian trong sử thi: không gian kì vĩ, không gian cộng đồng, bao gồm không gian thiên nhiên, không gian xã hội.

+ Không gian trong truyện ngắn, tiểu thuyết: không gian ngoại cảnh gần gũi, gắn bó với cuộc sống con người; không gian tâm trạng mang tính chất riêng tư, cá thể.

Cách trả lời: Không gian trong trong văn bản là …

Dạng 5. Xác định thời gian trong văn bản

+ Trong thần thoại: là thời gian của quá khứ thời nguyên thủy, không được xác định cụ thể. Thời gian phiếm chỉ, mang tính ước lệ.

+ Trong sử thi: là thời gian quá khứ thiêng liêng, thuộc về một thời đại xa xưa được cộng đồng ngưỡng vọng.

+ Trong truyện ngắn, tiểu thuyết: thời gian tuyến tính; thời gian lồng ghép, không theo trật tự tuyến tính; thời gian đồng hiện.

Cách trả lời:Thời gian trong văn bản là…

Dạng 6. Xác định sự việc, chi tiết tiêu biểu

Để trả lời được câu hỏi này, cần nắm được:

+ Sự việc: là cái xảy ra được nhận thức có ranh giới rõ ràng, phân biệt với những cái xảy ra khác. Trong văn bản tự sự, mỗi sự việc được diễn tả bằng lời nói, cử chỉ, hành động của nhân vật trong quan hệ với nhân vật khác.

+ Chi tiết tiêu biểu là chi tiết đặc sắc, tập trung thể hiện rõ sự việc.

Cách trả lời: Các sự việc/chi tiết tiêu biểu trong văn bản là…

Dạng 7. Xác định nhân vật, đặc điểm của nhân vật

Cách trả lời: Để xác định được nhân vật, đặc điểm của nhân vật, cần nắm được:

+ Nhân vật là con người cụ thể được khắc họa trong tác phẩm văn học bằng các biện pháp nghệ thuật. Cũng có những trường hợp nhân vật trong tác phẩm văn học là thần linh, loài vật, đồ vật, … nhưng ki ấy, chúng vẫn đại diện cho những tính cách, tâm lí, ý chí hay kì vọng của con người.

+ Phân loại:

++ Nhân vật chính: là nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển khai tác phẩm. Nhà văn thường tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách của nhân vật.

++ Nhân vật trung tâm: là nhân vật chính, quan trọng nhất xuyên suốt toàn bộ tác phẩm.

++ Nhân vật phụ: là nhân vật mang vai trò phụ trợ trong truyện giữ vai trò kết nối, liên quan đến diễn biến của truyện.

+ Nhân vật văn học có thể là con người có tên (như chị Dậu, Thúy Vân, Thúy Kiều, ông Hai, Chí Phèo…), có thể là những người không có tên (như thằng bán tơ, viên quan, mụ quản gia…) hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình – ta trong ca dao…).

+ Dấu hiệu nhận biết nhân vật: tên gọi, tiểu sử, nghề nghiệp những đặc điểm riêng… Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó.

MỨC ĐỘ THÔNG HIỂU

Dạng 1. Tóm tắt cốt truyện.

Cách trả lời:

Đối với câu hỏi này cần nắm được khái niệm: cốt truyện là một hệ thống những sự kiện, biến cố, hành động trong tác phẩm tự sự.

Cách tóm tắt:

+ Liệt kê các sự kiện chính.

+ Sắp xếp các sự kiện theo trình tự thời gian.

Dạng 2. Lí giải tác dụng của việc lựa chọn nhân vật người kể chuyện (ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ nhất); lựa chọn điểm nhìn, lời người kể chuyện, lời nhân vật …

Cách trả lời:

+ Chỉ ra nhân vật người kể chuyện/điểm nhìn/lời người kể chuyện/lời nhân vật.

+ Tác dụng:

Tác dụng của việc lựa chọn nhân vật người kể chuyện:

++ Ngôi thứ nhất: Tạo sự chân thực trong lời kể; giúp người đọc nắm bắt tâm trạng nhân vật sâu sắc, sinh động, gần gũi.

++ Ngôi thứ ba: Tạo sự khách quan trong lời kể; giúp người kể có thể kể chuyện một cách linh hoạt, tự do về những gì diễn ra với nhân vật (có thể dịch chuyển điểm nhìn trong quá trình thực hiện).

Tác dụng của việc lựa chọn điểm nhìn:

++ Tạo cái nhìn khách quan về nhân vật.

++ Có thể dịch chuyển điểm nhìn một cách linh hoạt.

Tác dụng của lời người kể chuyện:

++ Tạo không gian sử thi trang trọng, thành kính, góp phần khắc họa vẻ đẹp nhân vật (đối với riêng thể loại sử thi).

++ Thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá đối với sự việc, nhân vật, từ đó định hướng hình dung cho người đọc.

Tác dụng của lời nhân vật:

++ Giúp nhà văn khắc họa tính cách nhân vật, tạo nên “lời ăn tiếng nói” riêng của nhân vật, truyền tải ý đồ nghệ thuật nhà văn muốn gửi gắm

Dạng 3. Phân tích ý nghĩa, tác dụng của chi tiết tiêu biểu trong văn bản.

Cách trả lời:

+ Chỉ ra chi tiết.

+ Ý nghĩa của chi tiết:

++ Về mặt nghệ thuật: Chi tiết đó là yếu tố quan trọng làm cho câu văn, đoạn văn thêm sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe; góp phần làm đầy, thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện.

++ Về mặt nội dung: Góp phần khắc họa đặc điểm tính cách, phẩm chất của nhân vật; đặc điểm bức tranh cuộc sống, qua đó thể hiện tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của nhà văn.

Dạng 4. Phân tích đặc điểm của nhân vật trong thần thoại, sử thi, truyện ngắn, tiểu thuyết; lí giải được vị trí, vai trò, ý nghĩa của nhân vật trong đoạn trích/tác phẩm.

Cách trả lời:

+ Chỉ ra đặc điểm nhân vật.

Đặc điểm nhân vật trong thần thoại:

++ Các vị thần hoặc những con người có nguồn gốc thần linh.

++ Có năng lực siêu nhiên.

++ Hình dạng khổng lồ, kì dị, có sức mạnh phi thường.

Đặc điểm nhân vật trong sử thi:

++ Người anh hùng đại diện cho sức mạnh, phẩm chất và khát vọng của cộng đồng.

+ Hội tụ nhiều vẻ đẹp (thông minh, sức vóc phi thường, dũng cảm, tốt bụng, luôn xả thân vì cộng đồng trong chiến đấu chống kẻ thù và chinh phục tự nhiên).

Đặc điểm của nhân vật trong truyện ngắn:

++ Những con người cụ thể, mang tính cá thể, riêng biệt, độc đáo…

+ Vị trí, vai trò, ý nghĩa của nhân vật:

++ Là nhân vật chính hay phụ, góp phần vào sự phát triển của cốt truyện.

++ Là phương tiện phản ánh đời sống, khái quát hiện thực (Ví dụ: nhân vật Lí Thông trong truyện Thạch Sanh là biểu hiện của loại người tham lam trong xã hội).

++ Là phương tiện thể hiện quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng, tình cảm của tác giả.

++ Qua nhân vật, nhà văn gửi gắm tư tưởng, tình cảm, thông điệp về con người và xã hội, từ đó góp phần khẳng định tài năng của tác giả.

Dạng 5. Nêu chủ đề, tư tưởng của văn bản

Cách trả lời:

+ Chủ đề/Tư tưởng của văn bản là… (vấn đề được nói tới trong văn bản/sự lí giải đối với chủ đề đã nêu, là điều tác giả muốn trao đổi, nhắn gửi, đối thoại với người đọc).

Ví dụ: Trong Tắt đèn:

Chủ đề: sự mâu thuẫn giữa nông dân và bọn cường hào quan lại.

Tư tưởng: lên án thế lực hắc ám, hoành hành ở nông thôn Việt Nam thời Pháp thuộc và sự trân trọng, yêu thương người nông dân bị áp bức.

+ Qua đó, thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả đối với vấn được nói tới.

Dạng 6. Lí giải tình cảm, thái độ của tác giả/người kể chuyện với nhân vật trong văn bản.

Cách trả lời:

+ Nêu tình cảm, thái độ của tác giả: Câu văn/đoạn văn/văn bản thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả đối với… (đồng tình, yêu mến trân trọng, ngợi ca, tự hào,…/không đồng tình, tố cáo, lên án, phản bác,…).

+ Lí giải:

++ Tình cảm, thái độ đó chịu sự chi phối của các yếu tố: điểm nhìn giai cấp, thế hệ, yếu tố (hoàn cảnh lịch sử, địa lí, xã hội, …).

++ Tình cảm, thái độ đó góp phần thể hiện tư tưởng, quan điểm của nhà văn về con người và cuộc sống.

Dạng 7. Giải thích ý nghĩa, tác dụng của các biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn.

Cách trả lời:

+ Các biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn tiểu thuyết:

++ Bút pháp miêu tả chi tiết, tỉ mỉ, khắc hoạ ngoại hình độc đáo.

++ Miêu tả tâm lí nhân vật chân thực, tinh tế.

++ Sử dụng ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm.

+ Giải thích ý nghĩa, tác dụng:

++ Xây dựng nhân vật chân thực, gần gũi với đời thường, đáp ứng nhu cầu thưởng thức của độc giả.

++ Khắc họa số phận, phẩm chất, tính cách của nhân vật.

++ Thể hiện tài năng của tác giả.

MỨC ĐỘ VẬN DỤNG

Dạng 1. Rút ra thông điệp/bài học về tư tưởng, nhận thức.

Cách trả lời:

+ Thông điệp/Bài học có ý nghĩa sâu sắc nhất: Chúng ta hãy/cần/nên/phải/…

+ Lí giải: Em chọn thông điệp/bài học trên vì…

Dạng 2.  Đánh giá giá trị của chi tiết, hình tượng… trong tác phẩm theo quan niệm của cá nhân.

Cách trả lời:

+ Nêu ý nghĩa/giá trị của chi tiết/hình tượng: Chi tiết/Hình tượng trên có ý nghĩa quan trọng trong việc… (Góp phần khắc họa đặc điểm tính cách, phẩm chất của nhân vật; đặc điểm bức tranh cuộc sống, qua đó thể hiện tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của nhà văn).

+ Đánh giá ý nghĩa/giá trị của chi tiết/hình tượng: Đó là chi tiết/hình tượng độc đáo, góp phần quan trọng làm nên thành công của tác phẩm.

Dạng 3.  Liên hệ để thấy một số điểm gần gũi về nội dung giữa các tác phẩm thuộc những nền văn học khác nhau.

Cách trả lời:

+ Nêu tên tác phẩm liên hệ.

+ Chỉ ra điểm tương đồng, gần gũi giữa hai tác phẩm.

+ Lí giải vì sao có sự tương đồng, gần gũi ấy.

  1. ĐỀ MINH HỌA VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM

ĐỀ 1

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

[…] Ở cái xóm nhỏ ven thành phố này, người ta nhắc tới anh Hết còn nhiều hơn chủ tịch tỉnh đi họp. Đứa nào hỗn hào, lười biếng, má nó biểu: “Lại coi thằng Hết kìa! Ba mươi mấy tuổi đầu rồi, ngày đi làm thuê, làm mướn, không có chuyện gì nó chê, chiều về lụi hụi chui vô bếp nấu cơm, giặt giũ cho cha già, hiếu thảo thấy mà thương”.

[…] Tía anh Hết năm nay 72 tuổi. Tuổi này, người ta hay đau yếu nhưng ông vẫn còn sỏi lắm. Ông già khó tính, thêm tật lãng tai. Người ta mời ông ngồi, ông cười, xua tay: “Ăn rồi. Ăn cơm với thằng Hết rồi”. Chừng năm năm trước, ông còn vô bếp nấu cơm, mắt mũi tèm nhèm để lửa táp vô vách lá, nhà cháy rụi. Anh Hết cất lại nhà trên nền cũ đầy tro, nhìn xa nhà lớn hơn miếu ông Tà một chút […].

Bữa nào anh Hết cũng chổng mông thổi lửa, rồi dọn cơm sẵn, ngồi dựa cửa trước chờ tía anh về. Có bữa chờ tới mỏi mòn, để bụng đói ngồi ngủ gà gật. Người ở xóm biểu cứ ăn trước đi chớ chờ gì, anh cười, mâm cơm có ấm cúng, tía tôi mới vui miệng, ăn nhiều. Nhưng có bữa, anh mới vừa giở cửa chui vô nhà, ông già đã ngồi nhai cơm cháy, bị nghẹn, mắt ầng ậng nước. Anh thương tía quá chừng vội vàng chạy đi vo gạo.

Anh Hết mồ côi má từ mới lọt lòng […]. Tía anh không đi bước nữa, ngày ngày cột sợi dây võng dài từ nhà trên xuống bếp, vừa đưa vừa nấu nước cháo, hát vọng lên, ” Chớ ầu ơ… Cây khô đâu dễ mọc chồi…”. Chừng này tuổi rồi, mỗi khi anh đặt lưng xuống bộ vạc, lại nhớ ngơ nhớ ngẩn lời hát của tía anh ngày xưa. Buồn lắm, nghe đứt ruột lắm. Càng nhớ anh càng thương ông. Câu được vài ba con cá rô, anh bắc cái ơ lên kho quẹt, tỉ mẩn lọc phần thịt dành cho tía, phần xương xẩu phần mình. Những trưa nắng tốt, tranh thủ giờ cơm trưa anh xin phép chạy về, dắt tía anh ra ngoài hè tắm rửa, kỳ cọ. Những tối trời mưa, anh lúp xúp cầm cái nón mê đi đón ông già. Đi cạnh, che đầu cho ba, nghiêm trang như đang chở che cho sinh linh nào đó nhỏ bé lắm, yếu ớt lắm.

Nhưng ông già đâu có yếu, ông xách gậy rượt đánh anh hoài đó chớ. Tía đầu bạc rượt thằng con đầu xanh chạy cà tưng đuổi nhau lòng vòng quanh mấy cây me già ngoài mé lộ. Đám trẻ xúm lại, vỗ tay như coi hát bội. Hỏi anh Hết sao không chịu chạy nhanh để bị dính đòn, anh bảo, chạy thì được, nhưng càng nhanh thì tía anh càng mệt, chịu có mấy roi nhẹ hều, nhằm gì.

Ai nghe nói cũng thương. Đúng là tên sao thì người vậy, chịu thương chịu khó hết mình, hiếu thảo hết mình […]

(Trích Hiu hiu gió bấc, Nguyễn Ngọc Tư, Fanpage Nguyễn Ngọc Tư đăng ngày 13/08/2015)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.

Câu 2. Liệt kê một số chi tiết miêu tả ngoại hình nhân vật cha anh Hết.

Câu 3. Nêu chủ đề của văn bản.

Câu 4. Nhận xét phẩm chất nổi bật của nhân vật anh Hết được thể hiện trong văn bản.

Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất với cuộc sống hôm nay và giải thích lí do.

ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU 4.0
  1 Ngôi kể của người kể chuyện: Ngôi thứ 3 0,5
2 Liệt kê một số chi tiết miêu tả ngoại hình nhân vật cha anh Hết: tật lãng tai; mắt mũi tèm nhèm; đầu bạc 0,5
3 Chủ đề của văn bản:

Ca ngợi tình cảm cha con sâu nặng, cao đẹp, đáng quý

1,0
4  Nhận xét một phẩm chất nổi bật của nhân vật anh Hết:

Gợi ý

– Chỉ ra được một phẩm chất nổi bật của anh Hết:

+ Hoặc chịu thương chịu khó: Không chê việc gì, ngày đi làm thuê, làm mướn, chiều về lụi hụi chui vô bếp nấu cơm, giặt giũ cho cha già.

+ Hoặc rất mực yêu thương cha: Chăm sóc cha chu đáo, luôn muốn làm cha vui, phần cá nạc cho cha…

– Nhận xét về phẩm chất nổi bật của nhân vật đã chỉ ra:

+ Ý nghĩa, vai trò của phẩm chất ấy đối với cộng đồng:…

+ Tác động của phẩm chất ấy đối với bản thân học sinh:…

 

1,0

5 HS nêu một thông điệp có ý nghĩa nhất với cuộc sống hôm nay:

+ Hãy yêu thương, quan tâm, chăm sóc cha mẹ

+ Sống có trách nhiệm với gia đình.

– Lí giải một cách hợp lí và thuyết phục…

+ Thể hiện lòng biết ơn với công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ vừa khẳng định lòng hiếu thảo, sự trưởng thành, biết suy nghĩ, biết sống đúng đắn.

1,0

 

ĐỀ 2

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc văn bản sau:

TRÊN XUẤT SẮC

(Phạm Sông Hồng)

Tiếng thằng bé vút qua tai tôi khi nó vừa nói như hét vừa lao vào nhà, cả người chúi về phía trước: Mẹ ơi, con được học sinh xuất sắc, được thưởng một cái hộp xếp hình. Tôi chưa kịp khen thì vừa tháo quai cặp khỏi vai, nó lại hỏi tiếp: Mẹ ơi thế tiên tiến với xuất sắc thì cái gì hơn?

Tôi trả lời chưa dứt câu, nó dồn ngay: Thế trên xuất sắc là gì hả mẹ?

Tôi đành xin khất đến hôm sau.

Tôi không muốn trả lời con một cách cho xong việc. Sự trong trắng của trẻ con như tờ giấy trắng, nó đòi hỏi ta phải cẩn trọng, phải băn khoăn khi có lời. Tôi thường hồi hộp khi ngồi vào bàn viết trước một trang giấy quá trắng.  Không hiểu có phải tôi bắt đầu già nên thời gian gần đây tôi hay nghĩ về kỉ niệm tuổi thơ. Và tôi thấy tuổi thơ của một người hình như có thể gói gọn trong một hình ảnh nhiều khi như rất nhỏ nhoi, vô nghĩa… với kẻ khác

Qua những câu chuyện của cha về bãi biển Quy Nhơn với những ngôi nhà đủ kiểu trên cát, tôi bỗng hiểu những hạt cát ướt kia chính là tuổi thơ cha. Và cái ngôi nhà rỗng, người lạ đến mang hết đồ đạc đi, và tiếng rơi bất chợt của cái thìa nhôm hàng ngày bà ngoại đã bón cơm cho dì, cậu tôi… bỗng âm vang lạ lùng trên nền nhà vắng… là tuổi thơ mẹ.

Tuổi thơ của tôi là gì?

Nhưng tôi còn phải trả lời con tôi.

Tôi không hài lòng lắm với câu tôi đã định trả lời, tôi bỗng cảm thấy nó có vẻ nông cạn và công thức. Càng ngày tôi càng hiểu những câu hỏi bao giờ cũng thú vị cũng hấp dẫn hơn những câu trả lời. Hình như một trong những cái khổ của người lớn là hay phải trả lời.

Trên xuất sắc nghĩa là từ những miếng nhựa này, con xếp được nhiều thứ nhất.

Thằng bé như muốn được “trên xuất sắc” ngay, nó ôm thật nhanh cái hộp vào góc nhà và bắt đầu xếp…

Lúc tôi đến bên thì thằng bé đang xếp một hình gì đó thật khó hiểu: nó gồm các miếng nhựa chồng lên nhau, mỗi “tầng” một miếng cao ngất ngưởng, trên cùng là một miếng vuông.

Con xếp gì đấy? Nhà đây mẹ ạ. Đây không phải là nhà con ạ. Nói rồi tôi định dỡ “ngôi nhà” kì cục kia, xếp mẫu cho nó xem, nhưng nó đã gạt tay tôi ra một cách quyết liệt: Nhà của con, có sân bay trên nóc đấy!

Tôi sững người không phải vì cái gạt tay quyết liệt nhưng yếu ớt kia mà vì mấy tiếng rất đĩnh đạc, rất người lớn của thằng bé: Nhà của con.

Tôi cũng đã từng xây nhà, những ngôi nhà cát ướt, trong có những vỏ ốc làm chén bát, những cuống lá làm thìa để “ngôi nhà” khỏi trống trải. Mọi người đã cười những “ngôi nhà cát” kì quặc và rồ dại ấy vì hình dáng của chúng chỉ giống mỗi trí tưởng tượng của tôi.

Thế mà lúc chiều, suýt nữa tôi đã làm hỏng “ngôi nhà” tưởng tượng của nó.

Nó có vẻ giận tôi, bất hợp tác…

Tôi lại lan man nghĩ đến tuổi thơ của mình.

Không hiểu bây giờ tôi là ai nếu hồi ấy mẹ đồng ý khi tôi định bỏ học đi làm kiếm tiền giúp bố mẹ như nhiều nhà khác. Nhà mình nghèo thật, nhưng bố mẹ sẽ cố hết sức để các con được đi học vì mẹ biết dù nói thế con vẫn rất muốn được đi học. Và tôi sẽ là ai khác nữa nếu hồi ấy cha không đồng ý để tôi theo học một ngành rất “con trai”, ngành tự động học mặc dầu ông rất muốn con theo nghề viết.

Hay là cha mẹ không ép tôi vì đã dửng dưng trước tương lai của đứa con đầu lòng bướng bỉnh? Nếu vậy thì buồn quá!

Rồi chẳng hiểu cơn cớ gì lại đưa đẩy tôi trở về với nghiệp cha. Khi cầm tập truyện đầu tay của tôi, cha chỉ im lặng xoa đầu con gái, mắt cười đầy nước.

Tôi bỗng hiểu cha mẹ đã yêu tôi, đã hi sinh thầm lặng vì những ngôi nhà của tôi như thế nào.

Tôi thấy cần phải gặp con đã như một việc khẩn cấp để xin lỗi nó và để nói với nó rằng: Con đã làm được một việc trên xuất sắc vì con đã xây một ngôi nhà đúng là nhà của con.

Tôi nhìn ngôi nhà xếp kì quặc của nó sừng sững trên bàn, nấn ná mãi mới dắt được xe ra cửa…

(Tiếng đáy – tập truyện ngắn của Phạm Sông Hồng, NXB Hội nhà văn – Công ti sách Hà Nội, 2007, tr. 204 – 210)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5

Câu 1. Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy?

Câu 2. Dựa vào câu chuyện, hãy cho biết cậu bé tỏ thái độ như thế nào khi mẹ muốn giúp cậu xếp ngôi nhà “cho đúng” theo cách của mẹ?

Câu 3. Đặc điểm nổi bật của nhân vật người con được thể hiện trong văn bản như thế nào?

Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về ý nghĩa các cụm từ “nhà của con” trong lời cậu bé và “ngôi nhà của tôi” trong lời người kể chuyện?

Câu 5. Thông điệp nào có ý nghĩa nhất đối với anh/chị sau khi đọc văn bản trên (trả lời trong đoạn văn từ 5 – 7 dòng).

ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM

 

Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU 4,0
  1 Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ nhất. 0,5
2 Thái độ của cậu bé khi mẹ muốn giúp cậu xếp ngôi nhà “cho đúng” theo cách của mẹ là: quyết liệt từ chối, giận dỗi, bất hợp tác. 0,5
3 Nhận xét về nhân vật cậu bé trong văn bản

– Có tâm hồn trong sáng, có ước mơ riêng

– Có suy nghĩ độc lập, mạnh mẽ, quyết đoán, bản lĩnh

1,0
4 – Ý nghĩa các cụm từ “nhà của con” trong lời cậu bé

+ Nghĩa đen:là mô hình thiết kế ngôi nhà đồ chơi bằng nhựa do cậu bé lắp ghép.

+ Nghĩa bóng: chỉ ước mơ, suy nghĩ, dự định, kế hoạch cuộc đời riêng của cậu bé.

– Ý nghĩa cụm từ“ngôi nhà của tôi” trong lời người kể chuyện: mong muốn, kì vọng của người mẹ.

1,0
5 – Thông điệp: con người sẽ được hạnh phúc nếu được sống với mong muốn suy nghĩ riêng của bản thân mình; và chỉ cần sống hết với khả năng của bản thân thì đã có thể trở thành người xuất sắc.

– Lí giải: Học sinh lí giải thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực

1,0

 

ĐỀ 3

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Bà nội đặt cái quẩy tấu đánh xoạch rồi ngồi phệt xuống bậu cửa. Con chó cộc đuôi gầy nhẳng len lét chui vào gầm cối xay ngô. Bố tôi ngật ngưỡng đi từ trong nhà ra, trên vai lắt lẻo chiếc túi chàm bạc phếch, giọng lè nhè. Từ giờ, tao đi sang Nậm Lay ở hẳn với cái Mua đây. Bà nội quắc mắt, quăng cái quẩy tấu về phía bố, chân đá tay khua. Những bắp ngô văng ra tận mép sân, vàng xuộm chơ vơ.

Trong nhà, mẹ vẫn ngồi lặng bên bếp lửa. Nồi cháo sôi ùng ục trên bếp. Loãng tuếch. Em Sính khóc nhéo nhẳng xé ngang tiếng gió lùa vào vách thưng trống hoác mà mẹ vẫn ngây đơ ra như cây gỗ mục. Tiếng bát vỡ chát chúa ngoài sân. Tiếng bố gầm gừ như con gấu. Tiếng giậm chân bành bạch của bà nội. Tôi ngồi nép bên cánh cửa gỗ xộc xệch, nhìn bà nội lật đật chạy theo bố ra tận cổng để đòi lại chiếc vòng bạc và đôi khuyên tai mà không được. Bóng bố khật khưỡng xiêu vẹo leo lên chiếc xe máy đỏ nhảy cồ cồ trên con đường mòn men vách đá. Ráng chiều nhòe nhoẹt, màn sương trùm nhanh xuống thung như một bức màn xám khổng lồ.

Mẹ người dưới xuôi, học xong cấp ba tấp tểnh theo chúng bạn đi buôn hàng điện tử ở biên giới, suýt bị lừa bán sang Trung Quốc, may được bố cứu thoát. Trước khi đồng ý cho mẹ lấy bố, ông ngoại và cậu Vinh cũng lặn lội lên tận đây thăm nhà bà nội. Đó là một căn nhà gỗ bề thế ở trung tâm xã. Ông nội cũng là người dưới xuôi lên đây làm sơn tràng nhưng mất trong một trận lũ quét dữ dội từ khi bố mới lên bảy. Mấy năm sau, bà nội lấy người đàn ông góa vợ ở bản Ót và mang bố theo. Ngôi nhà gỗ đóng cửa im ỉm. Ai đi qua cũng bảo đúng là nhà của đàn bà góa.

Bố mẹ cưới nhau, căn nhà gỗ ấm hơi người trở lại. Ngày chợ phiên, bà đi từ bản Ót xuống chợ, lúc thì bán mấy con gà đen, khi thì bó măng khô, bọc chẩm chéo hay bất cứ thứ gì ông trẻ và chú Vừ kiếm được. Thi thoảng bà ghé qua nhà săm soi cách ăn ở thu vén của mẹ, thở dài thườn thượt khi thấy cái bụng con dâu vẫn phẳng lì như con cá đét. Bố mẹ lấy nhau gần sáu năm mới sinh được tôi sau bao nhiêu lần thăm khám, lấy thuốc. Ai đến nhà tôi chơi cũng bảo mẹ đẹp nhưng không hợp vía thần núi nên chỉ sinh rặt con gái. Bố theo đám phu vàng sang bên Sài Luốc, Sả Hồ, chưa kiếm được hạt vàng cám nào để làm của hồi môn cho hai đứa con gái thì sa vào cờ bạc, mê không dứt ra được, cứ ăn dầm ở dề nhà người đàn bà góa dưới Nậm Lay, năm thì mười họa mới trở về, lúc đi lại lục lọi mang theo vài thứ đáng giá như cái nồi đồng, chiếc điếu bạc, có khi còn lấy đôi khuyên tai bạc của mẹ hay lén lút tháo cả cái vòng ở cổ em Sính. Rồi căn nhà gỗ cũng bị người ta xiết nợ. Bà nội đưa mấy mẹ con tôi lên ở trong ngôi nhà nhỏ tẹo bám hờ vách núi, cách chợ phiên mấy chặng đường núi gập ghềnh…

Sau cái chiều đổ vỡ ấy, mẹ đem hai chị em tôi về xuôi. Chúng tôi đi như chạy trốn giữa màn sương dày đặc. Mẹ bước thoăn thoắt xuống dốc như xắn vạt sương thành từng miếng. Trên lưng mẹ, em Sính vẫn ngủ say sưa, cái mũ len đỏ lúc lắc. Tôi mắt nhắm mắt mở sấp ngửa chạy theo. Sương vừa tan thì mấy mẹ con xuống được đến đường lớn. Mẹ vẫy vẫy chiếc xe tải chở gỗ, một cái đầu trọc lốc thò ra buông mấy lời chọc ghẹo và tiếng cười khùng khục, chiếc xe lướt qua nhả lại một luồng khói xám xịt. Đợi mãi mới có một chiếc xe của mấy chú áo xanh cho đi nhờ. Mẹ nói với họ là đưa chị em tôi xuống thị trấn khám bệnh. Có một chú đưa cho mẹ mấy tờ tiền, mẹ cúi đầu lí nhí cảm ơn còn tôi cứ nhìn chăm chăm vào ngôi sao trên vai áo các chú. […].

(Trích Đường tới chân trời – Tạ Thanh Hải, http://vannghequandoi.com.vn/van-xuoi)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5

Câu 1: Người kể chuyện trong tác phẩm là ai?

Câu 2: Câu chuyện được kể ở những điểm nhìn nào?

Câu 3. Trong đoạn trích, số phận người mẹ bị ảnh hưởng bởi những tục lệ, định kiến nào của xã hội.

Câu 4. Nhận xét về một phẩm chất của nhân vật người mẹ thể hiện trong đoạn trích.

Câu 5. Em có suy nghĩ gì về tình cảm, cảm xúc của nhân vật tôi trong đoạn trích?

ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU 4.0
  1 Người kể chuyện trong tác phẩm là nhân vật “tôi” – người con trong gia đình. 0,5
2 Câu chuyện được kể ở các điểm nhìn:

+ Điểm nhìn của người kể chuyện (nhân vật tôi)

+ Điểm nhìn bên ngoài (nhân vật tôi quan sát và kể lại câu chuyện mình chứng kiến).

+ Điểm nhìn bên trong (bộc lộ nội tâm đầy xót xa, đau đớn của bản thân khi chứng kiến nỗi khổ của mẹ)

0,5
3 Trong đoạn trích, số phận người mẹ bị ảnh hưởng bởi những tục lệ, định kiến của xã hội như:

+ Tục lệ thách cưới

+ Quan niệm “Trọng nam khinh nữ”,

1,0
4 Nhận xét về số phận của người mẹ thể hiện trong đoạn trích.

Nhân vật mẹ trong đoạn trích là người phụ nữ bất hạnh:

+ Suýt bị lừa bán sang Trung Quốc.

+ Sống trong gia đình nhà chồng nhiều áp lực: muộn con, không có con trai.

+ Chồng sa vào cờ bạc bỏ rơi vợ con.

– Số phận bất hạnh, thiệt thòi của nhân vật mẹ là hiện thân cho nỗi khổ của người phụ nữ vùng cao.

 

1,0

5 Tình cảm, cảm xúc của nhân vật “tôi”:

+ Yêu thương, xót xa cho số phận của người mẹ

+ Lo lắng cho tình cảnh gia đình mình

– Đó là những nỗi khổ xuất phát từ bi kịch gia đình đầy đau đớn. Những đứa trẻ bị tổn thương vì gia đình không hạnh phúc.

1,0

 

 

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *