Tìm hiểu truyện ngắn Đền Cuông: truyền thuyết và lễ hội trước khi làm bài đọc hiểu
Tác giả: Anh Tuấn
Tác phẩm: Đền Cuông: truyền thuyết và lễ hội
Nội dung:
- Văn bản thuộc loại văn bản thông tin.
- Sự kiện được thuật lại là lễ hội đền Cuông, tưởng nhớ vua Thục An Dương Vương.
- Lễ hội diễn ra tại Nghệ An vào dịp rằm tháng Hai âm lịch hằng năm.
- Tác giả trình bày sự kiện theo trình tự thời gian, từ ngày 12 đến ngày 16 tháng Hai âm lịch.
- Các nghi lễ chính gồm: lễ khởi quang, lễ cáo trung thiên, lễ yết, lễ rước, lễ đại tế và lễ tạ.
- Lễ khởi quang mở đầu lễ hội, xin phép thần linh để dọn dẹp đền.
- Lễ cáo trung thiên báo cáo hoàn tất chuẩn bị, mời thần linh về dự lễ.
- Lễ yết gồm 6 bước, 35 lần xướng, tiếp theo là phần dâng hương.
- Lễ rước vua, công chúa và tướng Cao Lỗ diễn ra vào ngày 15 tháng Hai.
- Lễ đại tế là lễ chính, gồm 8 bước, thêm hai lần dâng hương và rượu.
- Lễ tạ tổ chức ngày 16 tháng Hai để tạ ơn thần linh.
- Hoạt động vui chơi ban ngày: đánh đu, chọi gà, kéo co, cờ người, võ cổ truyền, bóng chuyền, hội trại.
- Hoạt động ban đêm: hát ca trù, tuồng, chèo, đốt lửa trại.
- Đoạn trích thể hiện đặc trưng lễ hội: trang trọng, linh thiêng, gắn với tín ngưỡng dân gian.
- Điểm chung với văn bản “Ai ơi mồng 9 tháng 4”: lễ hội tưởng nhớ tiền nhân, thể hiện niềm tin vào linh hồn bất tử và sự tiếp nối truyền thống dân tộc.
- Suy đoán nghĩa từ “khai quang”: “khai” là mở đầu, “quang” là sáng sủa → khai quang nghĩa là mở đầu cho việc làm sạch, chuẩn bị không gian lễ hội.
- Cách nhập hai câu bằng dấu chấm phẩy:
“Lễ yết diễn ra vào chiều tối ngày 14 tháng Hai gồm 6 bước được tiến hành qua 35 lần xướng; sau phần hành lễ là phần dâng hương của đại diện các ban, ngành và người dân về dự lễ.”
ĐỀ ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Đền Cuông: truyền thuyết và lễ hội (Anh Tuấn)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Đền Cuông gắn với một huyền thoại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân lộc. Đền thờ Thục An Dương Vương – một vị vua có công lớn trong buổi đầu dựng nước. Lễ hội đền Cuông được tổ chức vào dịp rằm tháng Hai âm lịch hằng năm thu hút đông đảo người dân về dự. Sau nhiều năm bị lãng quên, năm 1993, lễ hội đến Cuông được phục hồi. Từ đó đến nay, lễ hội được duy trì hàng năm và trở thành một sinh hoạt văn hoá tâm linh không thể thiếu của người dân Nghệ An và du khách thập phương.
[…] Gần 20 năm qua, lễ hội đền Cuông được tổ chức hằng năm với cácc lễ nghi trang trọng mà linh thiêng: lễ khởi quang, lễ cáo trung thiên, lễ yết, lễ rước, lễ đại tế và lễ tạ. Lễ khơi quang diễn ra đầu tiên, được tổ chức vào ngày 12 tháng Hai âm lịch để xin phép các vị thần cho nhân dân dọn dẹp đền, chuẩn bị cho lễ hội. Sau lễ khai quang là lễ cáo trung thiên được tổ chức vào sáng ngày 14 tháng Hai để báo cáo với các vị thần rằng công việc dọn dẹp đền đó hoàn thành, mời các vị về đền tham dự lễ hội và chứng giám cho lòng thành kính của nhân dân, Lễ yết diễn ra vào chiều tối ngày 14 tháng Hai gồm 6 bước được tiến hành qua 35 lần xướng. Sau phần hành lễlà phần dâng hương của đại diện các ban ngành và người dân về dự lễ. Cũng trong tối 14 tháng Hai, còn có lễ rước vua và công chúa vị hành, Sáng 15 tháng Hai tiến hành lễ rước vua, công chúa và tướng Cao Lỗ từ đình Xuân Ái về đền Cuông. Sau đó là lễ đại tế. Lễ đại tế là lễ chính, bao gồm 8 bước. Trình tự và nội dung của buổi lễ tương tự như lễ yết, nhưng có thêm hai lần dâng hương, rượu. Lễ tế được tổ chức vào sáng ngày 16 tháng Hai để tạ ơn các vị thần đã về dự lễ. Trong thời gian lễ hội, ban ngày có các trò chơi truyền thông, thi đấu thể thao như đánh đu, chọi gà, kéo co, cờ người, biểu diễn võ cổ truyền, thi đấu bóng chuyền, hội trại,… ban đêm có hát ca trù, tuồng, chèo, đốt lửa trại,… Không khí lễ hội thật là hấp dẫn, tưng bừng, náo nhiệt.
(Theo Anh Tuấn, Đền Cuông: truyền thuyết và lễ hội, tạp chí điện tử Văn hoá Nghệ An, ngày 29/3/2012)
- Văn bản có đoạn được trích ở trên thuộc loại văn bản gì?
- Sự kiện nào được thuật lại trong đoạn trích? Sự kiện đó diễn ra ở đâu, vào thời điểm nào trong năm?
- Tác giả đã thuật lại sự kiện theo trình tự nào? Căn cứ vào đâu mà em xác định như vậy?
- Đoạn trích đã làm nói bật được đặc trưng của lễ hội nói chung, lễ hội đền Cuông nói riêng như thế nào?
- Hãy liên hệ với văn bản Ai ơi mồng 9 tháng 4 (Ngữ văn 6, tập hai) và rút ra nhận xét về điểm chung của các lễ hội tưởng nhớ tiền nhân, ghi công những người đã có đóng góp lớn cho cộng đồng.
- Nêu cách em suy đoán nghĩa của từ khơi quơng trong câu văn: “Lễ khai quang diễn ra đầu tiên, được tổ chức vào ngày 12 tháng Hai âm lịch đề xin phép các vị
thần cho nhân dân dọn dẹp đền, chuẩn bị cho lễ hội.“
- Nêu cách xử lí của em nếu được yêu cầu nhập hai câu sau đây thành một và có sử dụng dấu chấm phểy: “Lễ yết diễn ra vào chiều tối ngày 14 tháng Hai gồm 6
bước được tiến hành qua 35 lần xướng. Sau phần hành lễ là phần dâng hương của đại diện các bạn, ngành và người dân về dự lễ”
HƯỚNG DẪN CHẤM
- Văn bản có đoạn được trích thuộc loại văn bản thông tin.
- Sự kiện được thuật lại troag đoạn trích là lễ hội đến Cuông (tưởng nhớ vua An Dương Vương), tổ chức tại Nghệ An vào dịp rầm tháng Hai âm lịch hằng năm,
- Tác giả thuật lại sự kiện theo trình tự thời gian, cái gì điển ra trước được nói trước, cái gì diễn ra sau thí nói sau. Cụ thể, tác giả lần lượt nói về hoạt động trong từng ngày lễ hội, từ ngày 1 2 tháng Hai âm lịch đến ngày 16 tháng Hai âm lịch.
- Trong đoạn trích, không kể đoạn đầu mang tính chất giới thiệu chung, đoạn thứ hai tập trung nói về các nghi lễ, còn đoạn thứ ba dành để nói về các hoạt
động vui chơi trong thời gian điển ra lê hội, Như vậy, cả đoạn trích đã nói được khá toàn điện vừa về tính chất chung của một lễ hội, vừa về đặc điểm riêng của lễ hội đền Cuông, với các nghỉ lễ và hoạt động vui chơi cụ thể.
- Cũng như văn bản Ai ơi mồng 9 tháng 4, đoạn trích cho ta biết được đặc điểm chung của một lê hội tưởng nhớ tiền nhân, ghi công những người đã có đóng góp lớn cho cộng đồng. Đó là, luôn có những nghi lễ trang trọng mà linh thiêng, luôn thể hiện niềm tin về sự hiện hữu của những linh hồn bất tử và luôn chứng minh được sự tiếp diễn không ngừng của cuộc sống cộng đồng, dân tộc.
- Có thể suy đoán nghĩa của từ khai quang được dùng trong đoạn trích theo cách:
– Chú ý chi tiết “diễn ra đầu tiên” liên hệ tới những từ có yếu tố khơi như khai giảng, khai hội, khơi trương, khai bút, khai vị, từ đó đoán nghĩa của yếu tố khai là “mở ra” hay “bắt đầu”.
– Chú ý chi tiết “dọn đẹp đền, liên hệ tới những từ có yếu tố quang như quang mình, quang vinh, quang quẻ (từ láy), từ đó đoán nghĩa của yếu tố quang là “sáng, sáng sủa, thưa, trống,…
– Đoán nghĩa chung của từ khơi quang: mở ra cho sáng sủa hay bắt đầu cho trôi chây, thuận lợi.
- Cách xử lí: bỏ dấu chấm sau câu thứ nhất, thay bằng dáu chấm phẩy. Câu văn mới sẽ là: “Lễ yết diễn ra vào chiều tối ngày 14 tháng Hai gồm 6 bước được tiến hành qua 35 lần xướng; sau phần hành lễ là phần dâng hương của đại điện các bạn, ngành và người đến về dự lễ”.
