Tìm hiểu truyện ngắn Những độc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian trước khi làm bài đọc hiểu
Tác giả: Đỗ Bình Trị
Tác phẩm: Những độc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian (NXB Giáo dục, 2002)
Nội dung:
- Đoạn trích bàn về mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian với các tập tục, nghi lễ trong đời sống văn hóa Việt Nam. Truyền thuyết không chỉ minh giải cho truyền thống mà chính các yếu tố văn hóa ấy lại góp phần củng cố tính xác thực của truyền thuyết.
- Ý “Người kể truyền thuyết bao giờ cũng muốn làm cho người nghe tin vào tính chất xác thực của câu chuyện được họ kể lại” từng được nhắc đến trong phần Tri thức ngữ văn của bài học Chuyện kể về những người anh hùng.
- Văn bản “Ai ơi mồng 9 tháng 4” là minh họa tiêu biểu cho nhận định: truyền thuyết dân gian thường được kể để minh giải cho truyền thống, tập tục, nghi lễ.
- Nhiều thế hệ tin vào tính xác thực của truyền thuyết vì:
- Các tập tục, nghi lễ được duy trì qua nhiều đời như một minh chứng sống động.
- Truyền thuyết thường gắn với mốc lịch sử hoặc chứng tích cụ thể.
- Nhân vật trong truyền thuyết thường là nhân vật lịch sử có thật.
- Những chi tiết trong văn bản truyền thuyết như: “Đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Phù Đổng…”, “Bấy giờ, có giặc Ân đến xâm phạm…”, “Làng đó nay gọi là làng Cháy…” (Thánh Gióng); “Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái…” (Sơn Tinh, Thủy Tinh) đều cho thấy người kể chuyện muốn người nghe tin vào tính xác thực của câu chuyện.
- Đoạn trích có thể tổ chức lại thành hai câu như sau:
“Truyền thuyết dân gian thường được kể để minh giải cho truyền thống, tập tục, nghi lễ; ngược lại, chính những yếu tố đó của văn hóa dân gian lại là một bằng chứng về tính xác thực của truyền thuyết. Điều đáng chú ý là người kể truyền thuyết bao giờ cũng muốn làm cho người nghe tin vào tính chất xác thực của câu chuyện được họ kể lại, và người nghe cũng luôn tin vào những điều giải thích như thế, kể cả những điều giải thích đượm chất hoang đường.”
ĐỀ ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Những độc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian (Đỗ Bình Trị)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Truyền thuyết dân gian thường được kể để minh giải cho truyền thống, tập tục, nghỉ lễ. Ngược lại, chính những yếu tố đó của văn hoá dân gian lại là một bằng chứng về tính xác thực của truyền thuyết. Điều đáng chú ý là người kể truyền thuyết bao giờ cũng muốn làm cho người nghe tin vào tính chất xác thực của câu chuyện được họ kể lại, mặc dù tính chất hư cấu thường cô nhiều chất kì ảo của nó. Và người nghe cũng luôn tin vào những điều giải thích như thế, kể cả những điều giải thích đượm chất hoang đường.
(Đỗ Bình Trị, Những độc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian, NXB Giáo dục, 2002, tr. 60)
- Nội dung đoạn trích nói về vấn đề gì?
- Ý nào của đoạn trích từng được nhắc đến trong bài học Chuyện kể về những người anh hùng?
- Nêu tên một văn bản đã học có thể dùng để minh hoạ cho nhận định sau đây: Truyền thuyết dân gian thường được kể để minh giải cho truyền thống, tập tục, nghỉ lễ. Ngược lại, chính những yếu tố đó của văn hoá dân gian lại là một bằng chứng về tính xác thực của truyền thuyết.
- Vì sao trên thực tế, nhiều người thuộc nhiều thế hệ luôn tin vào tính chất xác thực của truyền thuyết?
- Hãy tìm trong các văn bản truyền thuyết đã học những câu, những chi tiết có thể làm sáng tỏ nhận xét sau:
Người kể truyền thuyết bao giờ cũng muốn làm cho người nghe tin vào tính chất xác thực của câu chuyện được họ kể lại.
- Đoạn trích gồm có 4 câu. Thử tổ chức lại thành đoạn chỉ có hai câu với những dấu câu thích hợp.
HƯỚNG DẪN CHẤM
- Đoạn trích nói về mối quan hệ giữa những truyền thuyết với các tập tục và nghi lễ trong đời sống văn hoá của người Việt.
- “Điều đáng chú ý là người kể truyền thuyết bao giờ cũng muốn làm cho người nghe tin vào tính chất xác thực của câu chuyện được họ kể lại” là ý từng được nói tới trong phần Tri thức ngữ văn của bài học Chuyện kể về những người anh hùng.
- Có thể dùng văn bản Ai ơi mồng 9 tháng 4 để làm sáng tỏ nhận định: Truyền thuyết đôn gian thường được kể để mình giỏi cho truyền thống, tập tục, nghỉ lễ. Ngược lại, chính những yếu tố đó của văn hoá ând gian lại là một bằng chứng về tính xác thực của truyền thuyết.
- Nhiều người thuộc nhiều thế hệ luôn tin vào tính chất xác thực của những truyền thuyết là vì:
– Vô số tập tục, nghi lễ được duy trì và thực hiện qua nhiều đời dường như đã chứng minh những điều được các truyền thuyết kể lại là có thật,
– Bản thân các truyền thuyết luôn có những chi tiết, lời kể gắn câu chuyện với một mốc lịch sử nào đó từng được xác nhận hay với những chứng tích còn có thể được nhìn thấy tận mắt.
– Nhiều nhân vật trong truyền thuyết là nhân vật lịch sử có thật.
5.Người kể truyền thuyết bao giờ cũng muốn làm cho người nghe tin vào tính chất xác thực của câu chuyện được họ kể lại. Nhiều câu, nhiều chi tiết trong các văn bản đã học có thể được dùng làm bằng chứng cho nhận định đó như:
– Đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Phù Đổng…; Bấy giờ, có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta; Còn những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp. Và khi ngựa thét ra lửa có cháy cả một làng. Làng đó nay gọi làng Cháy…
(Thánh Gióng).
– Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái…; Một người ở vùng núi Tản Viên… (Sơn Tinh, Thuỷ Tinh).
- Có thể tổ chức lại đoạn trích thành đoạn chỉ có hai câu theo cách sau:
– Bỏ dấu chấm sau câu thứ nhất, thay bằng dấu chấm phểy, viết thường từ “ngược”.
– Bỏ dấu chấm sau câu thứ ba, viết thường từ “và”.
