Tìm hiểu truyện ngắn Tiếng cười không muốn nghe trước khi làm bài đọc hiểu
Tác giả: Minh Đăng
Tác phẩm: Tiếng cười không muốn nghe (Ngữ văn 6, tập hai)
Nội dung:
- Câu thứ nhất là một câu hỏi mang tính chất gợi mở, câu thứ hai trả lời cho câu hỏi đó, tạo nên mối liên kết chặt chẽ về mặt ý nghĩa.
- Người viết chủ yếu sử dụng lí lẽ để bàn luận về vấn đề chê bai, cười nhạo người khác.
- Câu “Chê bai người khác là một nhược điểm phổ biến trong tính cách con người” thể hiện rằng hành vi này rất thường gặp ở con người, nhưng không phải là điều đáng tự hào. Mỗi cá nhân cần nhận thức rõ đây là một biểu hiện tiêu cực và phải biết điều chỉnh hành vi.
- Tác giả cho rằng cười nhạo người khác không quá nghiêm trọng vì nó không phải là hành vi độc ác, tàn nhẫn, và hoàn toàn có thể thay đổi được nếu con người biết rèn luyện lòng nhân ái và sự cảm thông.
- “Phương thuốc” hữu hiệu để chữa “căn bệnh” cười nhạo là lòng nhân ái, sự cảm thông, khả năng đặt mình vào hoàn cảnh người khác để suy nghĩ và thức tỉnh. Đây là cách tiếp cận nhân văn, khuyến khích sự thấu hiểu và yêu thương trong cộng đồng. Ngoài ra, giáo dục gia đình, nhà trường và môi trường sống cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách.
- Không thể dùng từ “yếu điểm” thay cho “nhược điểm” vì “yếu điểm” mang nghĩa là điểm trọng yếu, còn “nhược điểm” là điểm yếu kém, không tốt. Việc thay thế sẽ làm sai lệch ý nghĩa câu văn.
- Trong câu “Lòng nhân ái, sự cảm thông, ấy là ‘phương thuốc’ hữu hiệu để trị ‘căn bệnh’ này”, có thể thay từ “phương thuốc” bằng “bài thuốc” mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa và sắc thái biểu đạt.
ĐỀ ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Tiếng cười không muốn nghe (Minh Đăng)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Bạn đã bao giờ cười chê một người có khiếm khuyết chưa? Bất cứ ai được hỏi như thế, hẳn chẳng dám trỏ lời rằng chưa. Chê bai người khác là một nhược điểm phổ biến trong tính cách con người. Tuy nhiên, đây không phải là điều quá nghiêm trọng, và càng không phải là “căn bệnh” hết cách chữa. Lòng nhân ái, sự cảm thông, ấy là phương thuốc hữu hiệu để trị căn bệnh này. Thật vậy, khi mà khả năng yêu thương, đồng cảm, chia sẻ đối với người khác dán dần được bói đắp trong ta, khi ta biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác để nghĩ suy và thức tỉnh, thì lúc ấy, tiếng cười ngạo mạn vô lối sẽ không có lí do gì để bật ra.
(Minh Đăng, Tiếng cười không muốn nghe, Ngữ văn 6, tập hai, Sđd, tr. 75)
- Câu thứ nhất và câu thứ hai trong đoạn có quan hệ như thế nào về ý nghĩa?
- Ở đoạn trích trên, người viết chủ yếu dùng lí lẽ hay bằng chứng để bàn luận về vấn đề?
- Em hiểu như thế nào về câu “Ché bai người khác là một nhược điểm phổ biến trong tính cách con người”? Câu này có ý nghĩa gì với mỗi cá nhân?
- Vì sao người viết cho rằng cười nhạo người khác không phải là điều quá nghiêm trọng và càng không phải là “căn bệnh” hết cách chữa?
- Theo tác giả,”phương thuốc” hữu hiệu để trị “căn bệnh” cười nhạo người khác là gì? Hãy nêu ý kiến của em về “phương thuốc” đó.
- Vì sao trong câu “Chê bai người khác là một nhược điểm phổ biến trong tính cách con người”, không thể dùng từ yếu điểm thay cho từ nhược điểm?
- Trong câu “Lòng nhân ái, sự cảm thông, ấy là “phương thuốc” hữu hiệu để trị “căn bệnh” này”, theo em, có thể thay từ phương thuốc bằng từ nào mà ý nghĩa của câu vẫn không thay đổi?
HƯỚNG DẪN CHẤM
- Câu thứ nhất là một câu hỏi. Câu thứ hai trả lời cho câu hỏi đó.
- Ở đoạn trích, người viết chủ yếu dùng lí lẽ để bàn luận về vấn đề.
- Câu “Chê bai người khác là một nhược điểm phổ biến trong tính cách con người.” có nghĩa: trên đời này, hấu như ai cũng đã từng cười cợt, chê bai người khác. Mỗi cá nhân cần biết đó là biểu hiện không tốt, cần phải tránh.
- Cười nhạo người khác tuy là một nhược điểm của con người, nhưng điều đó chưa tệ hại bằng những thói xấu khác như sự bất nhân, độc ác, tàn nhẫn,… Ở phần sau của đoạn, người viết đã chỉ ra cách chữa “căn bệnh” này.
- Yêu thương, đồng cảm, chia sẻ đối với người khác, đặt mình vào hoàn cảnh người khác để nghĩ suy và thức tỉnh, đó là “phương thuốc” mà người viết đề xuất nhằm trị “căn bệnh” cười nhạo. Bên cạnh “phương thuốc” này, có thể còn có những cách khác, chẳng hạn: phát huy vai trò của giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường, xây dựng quan hệ thân tình gắn bó giữa các thành viên trong tập thể, cộng đồng,… Tóm lại, tuỳ từng trường hợp cụ thể để chọn cách “chữa trị” phù hợp.
- Nhược điểm là điểm yếu kém, yếu điểm là điểm chủ yếu. Vì sự khác nhau về nghĩa như vậy, cho nên không thể dùng từ yếu điểm thay cho nhược điểm ở câu “Chê bai người khác là một nhược điểm phổ biến trong tính cách con người”.
7. Trong câu “Lòng nhân ái, sự cảm thông, ấy là “phương thuốc” hữu hiệu để trị “căn bệnh” này”, có thể thay từ phương thuốc bằng từ bài thuốc mà vẫn giữ nguyên ý.
