Thi tốt nghiệp

Đọc hiểu thi tốt nghiệp: Giấy chứng nhận người ( Nguyễn Huy Thiệp)

ĐỀ ĐỌC HIỂU

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Giấy chứng nhận người ( Nguyễn Huy Thiệp)

GIẤY CHỨNG NHẬN NGƯỜI

Trên đoàn tàu, cô soát vé hết sức xinh đẹp cứ nhìn chằm chằm vào người đàn ông lớn tuổi áng chừng đi làm thuê, hạch sách:

-Vé tàu!

Người đàn ông lớn tuổi lục khắp người từ trên xuống dưới một thôi một hồi, cuối cùng tìm thấy vé, nhưng cứ cầm trong tay không muốn chìa ra.

Cô soát vé liếc nhìn vào tay anh, cười trách móc:

– Đây là vé trẻ em.

Người đàn ông đứng tuổi đỏ bằng mặt, nhỏ nhẹ đáp:

-Vé trẻ em chẳng phải ngang giá vé người tàn tật hay sao?

Giá vé trẻ em và người tàn tật đều bằng một nửa vé, đương nhiên cô soát vé biết. Cô nhìn kỹ người đàn ông một lúc rồi hỏi:

-Anh là người tàn tật?

-Vâng, tôi là người tàn tật.

-Vậy anh cho tôi xem giấy chứng nhận tàn tật.

Người đàn ông tỏ ra căng thẳng. Anh đáp:

-Tôi… không có giấy tờ. Khi mua vé cô bán vé bảo tôi đưa giấy chứng nhận tàn tật, không biết làm thế nào, tôi đã mua vé trẻ em

Cô soát vé cười gằn:

-Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được anh là người tàn tật?

Người đàn ông đứng tuổi im lặng, khe khẽ tháo giầy, rồi vén ống quần lên – Tôi chỉ còn một nửa bàn chân.

Cô soát vé liếc nhìn, bảo:

– Tôi cần xem chừng từ, tức là quyển sổ có in mấy chữ “Giấy chứng nhận tàn tật”, có đóng con dấu bằng thép của Hội người tàn tật!

Người đàn ông đứng tuổi có khuôn mặt quả dưa đắng, giải thích:

– Tôi không có hộ khẩu của địa phương, người ta không cấp sổ tàn tật cho tôi. Hơn nữa, tôi làm việc trên công trường của tư nhân. Sau khi xảy ra sự cố ông chủ bỏ chạy, tôi cũng không có tiền đến bệnh viện giám định…

Trưởng tàu nghe tin, đến hỏi tình hình.

Người đàn ông đứng tuổi một lần nữa trình bày với trưởng tàu, mình là người tàn tật, đã mua một chiếc vé có giá trị bằng vé của người tàn tật …

Trưởng tàu cũng hỏi:

– Giấy chứng nhận tàn tật của anh đâu?

Người đàn ông đứng tuổi trả lời anh không có giấy chứng nhận tàn tật, sau đó anh cho Trưởng tàu xem nửa bàn chân của mình.

Trưởng tàu ngay đến nhìn cũng không thèm nhìn, cứ nhất quyết nói:

– Chúng tôi chỉ xem giấy chứng nhận, không xem người. Có giấy chứng nhận tàn tật chính là người tàn tật, có giấy chứng nhận tàn tật mới được hưởng chế độ ưu đãi vé người tàn tật. Anh mau mau mua vé bổ sung.

Người đứng tuổi bỗng thẫn thờ. Anh lục khắp lượt các túi trên người và hành lý, chỉ có bốn đồng, hoàn toàn không đủ mua vé bổ sung. Anh nhăn nhó và nói với trưởng tàu như khóc:

– Sau khi bàn chân tôi bị máy cán đứt một nửa, không bao giờ còn đi làm được nữa. Không có tiền, ngay đến về quê cũng không về nổi. Nửa vé này cũng do bà con đồng hương góp mỗi người một ít để mua giùm, xin ông mở lượng hải hà, giơ cao đánh khẽ, nương bàn tay cao quý, tha cho tôi.

Trưởng tàu nói kiên quyết:

– Không được.

Thừa dịp, cô soát vé nói với Trưởng tàu:

– Bắt anh ta lên đầu tàu xúc than, coi như làm lao động nghĩa vụ.

Nghĩ một lát, trưởng tàu đồng ý:

– Cũng được.

Một đồng chí lão thành ngồi đối diện với người đàn ông đứng tuổi tỏ ra chướng tai gai mắt, đứng phắt lên nhìn chằm chằm vào mắt vị trưởng tàu, hỏi:

– Anh có phải đàn ông không?

Vị trưởng tàu không hiểu, hỏi lại:

– Chuyện này có liên quan gì đến tôi có là đàn ông hay không?

– Anh hãy trả lời tôi, anh có phải đàn ông hay không?

– Đương nhiên tôi là đàn ông!

– Anh dùng cái gì để chứng minh anh là đàn ông? Anh đưa giấy chứng nhận đàn ông của mình cho mọi người xem xem?

Mọi người chung quanh cười rộ lên.

Thừ người ra một lát, vị truởng tàu nói:

– Một người đàn ông to lớn như tôi đang đứng đây, lẽ nào lại là đàn ông giả?

Đồng chí lão thành lắc lắc đầu, nói:

– Tôi cũng giống anh chị, chỉ xem chứng từ, không xem người, có giấy chứng nhận đàn ông sẽ là đàn ông, không có giấy chứng nhận đàn ông không phải đàn ông.

Vị trưởng tàu tịt ngóp, ngay một lúc không biết ứng phó ra sao.

Cô soát vé đứng ra giải vây cho Trưởng tàu. Cô nói với đồng chí lão thành:

– Tôi không phải đàn ông, có chuyện gì ông cứ nói với tôi.

Đồng chí lão thành chỉ vào mặt chị ta, nói thẳng thừng:

– Cô hoàn toàn không phải người!

– Cô soát vé bỗng nổi cơn tam bành, nói the thé:

– Ông ăn nói sạch sẽ một chút. Tôi không là người thì là gì?

Đồng chí lão thành vẫn bình tĩnh, cười ranh mãnh, ông nói:

Cô là người ư? Cô đưa giấy chứng nhận “người” của cô ra xem nào…

Mọi hành khách chung quanh lại cười ầm lên một lần nữa.

Chỉ có một người không cười. Đó là người đàn ông trung niên bị cụt chân. Anh cứ nhìn chân chân vào mọi thứ trước mặt. Không biết tự bao giờ, mắt anh đẫm lệ, không rõ anh tủi thân, xúc động, hay thù hận.

Câu 1. Câu chuyện trên đây có ý nghĩa như thế nào trong việc xác lập lẽ sống cho bản thân?

Hãy viết bài văn nghị luận để trả lời cho câu hỏi đó

Câu 2 . Em  hãy vận dụng hiểu biết về thể loại truyện ngắn để viết bài văn nghị luận với chủ đề “ sức hấp dẫn của truyện ngắn Giấy chứng nhận người”

HƯỚNG DẪN CHẤM

Câu Yêu cầu kiến thức và kỹ năng cần đạt Điểm
1 Nghị luận xã hội 8,0
 

 

 

 * Yêu cầu về kỹ năng: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận. Hệ thống luận điểm, luận cứ rõ ràng, được sắp xếp logic. Lập luận chặt chẽ, lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục. Kết cấu bài văn hoàn chỉnh. Diễn đạt thanh thoát.  

2,0

  * Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể có thể có những nhận thức và kiến giải riêng miễn là đủ sức thuyết phục. Dưới đây là một số gợi ý mang tính định hướng. 6,0

 

  1. Giới thuyết chung

– Giấy chứng nhận người của tác giả Úc Thanh là tác phẩm chứa đựng nhiều thông điệp nhân sinh sâu sắc. Trong câu chuyện đó, hành động vô trách nhiệm của ông chủ công trường nơi người đàn ông tàn tật làm thuê, thái độ và cách ứng xử máy móc, vô cảm của cô nhân viên soát vé cùng người trưởng tàu, sự thờ ơ của đám đông hành khách, tất cả đều là biểu hiện cho sự xuống cấp về đạo đức lối sống của con người trong xã hội hiện đại.

 Trong bức tranh đời sống ấy, vẫn còn đó vị hành khách lão thành với cách ứng xử đầy tính nhân văn. Khi tất cả mọi người đều thờ ơ, vô cảm thì ông lão đã dũng cảm đứng lên đấu tranh chống lại hành động hoạch sách của người trưởng tàu và cô nhân viên soát vé để bảo vệ người đàn ông tàn tật. Đó là cách ứng xử thể hiện thái độ thấu hiểu, sẻ chia và thấm đượm tình người.

   =>Khái quát:Như vậy, truyện ngắn Giấy chứng nhận người dù rất hạn hẹp về dung lượng câu chữ nhưng hàm chứa giá trị nhân sinh sâu sắc, gợi mở cho người đọc về một lẽ sống nhân văn, tích cực: Nói không với sự vô cảm, với cách ứng xử máy móc, quan liêu; lấy tình người làm trọng để quan tâm, yêu thương và chia sẻ với mọi người, đặc biệt là với những mảnh đời yếu thế.

 

 

 

 

 

 

 

1,0

  2. Bàn luận

2.1. Một mặt, câu chuyện trên đây khiến chúng ta phải suy nghĩ về sự cần thiết phải đấu tranh chống lại thói quan liêu,máy móc, vô cảm

* Hậu quả của thói quan liêu, máy móc:

– Thói quan liêu, máy móc dẫn đến việc không nắm bắt đúng bản chất của sự việc, từ đó dễ hành động sai lầm;tạo ra khoảng cách giữa người với người, khiến con người mất đi sự trân trọng, ủng hộ từ những người xung quanh.

– Thói quen, cách ứng xử dựa trên mệnh lệnh, giấy tờ biến con người thành những cỗ máy lạnh lùng, vô cảm; mở đường cho sự lạm dụng quyền lực, thói độc tài.

– Chúng ta bài trừ thói quan liêu, máy móc, nêu cao cách ứng xử linh hoạt nhưng phải tôn trọng luật pháp và chuẩn mực đạo đức xã hội, đảm bảo sự hài hòa giữa lý và tình, lý thuyết và thực tiễn.Cách ứng xử linh hoạt không đồng nghĩa với thói tráo trở, luồn lách, bất chấp công lý, lẽ phải, sự thật để đạt được mục đích cá nhân.

* Tác hại của sự vô cảm trong đời sống:

– Cùng với thói quan liêu, máy móc thì sự vô cảm cũng là nguyên nhân khiến tâm hồn trở nên chai lì, tàn lụi, không cảm nhận được niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, khổ đau, ý nghĩa của cuộc sống.

– Sự vô cảm cũng là biểu hiện của thái độ thiếu trách nhiệm trước cuộc đời, trước những bất công, ngang trái, những vấn đề nhức nhối của thời đại, nhân loại; tạo cơ hội cho cái ác, cái xấu lộng hành.

– Thói vô cảm sẽ dẫn đến tự cô lập bản thân, tách mình ra khỏi xã hội, đánh mất tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết,….

=>Có thể nói, chính thói quan liêu, máy móc, vô cảm là những nguyên cớ khiến con người mất đi nhân tính – yếu tố quan trọng nhất để “chứng nhận” con người.

2.2. Mặt khác, câu chuyện cũng có ý nghĩa đề cao tình người, sự thấu hiểu, chia sẻ và tinh thần đấu tranh bảo vệ những mảnh đời khốn khổ

– Lẽ sống biết yêu thương, thấu cảm là biểu hiện của nhân tính, là tờ “giấy chứng nhận người” quan trọng nhất để phân biệt con người với muôn loài.

– Sự yêu thương, chia sẻ, thấu cảm thắp lên niềm tin, hi vọng và nghị lực sống ở con người, nhất là những mảnh đời bất hạnh.

– Lẽ sống ấy cũng gắn kết người với người, khiến cho quan hệ giữa người với người trở nên bền chặt.

– Hơn hết, lẽ sống nhân văn ấy phù hợp đạo lí làm người, trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của đời sống con người và xã hội.

– Cần lưu ý rằng, chúng ta nên lấy tình yêu thương con người làm lẽ sống nhưng không để người khác lợi dụng tình cảm ấy để làm việc sai trái; cần đặt tình cảm ấy đúng người, đúng chổ.

=> Lẽ sống coi trọng tình người, ứng xử thấu tình đạt lí, quan tâm, thấu hiểu và dũng cảm đấu tranh bảo vệ lẽ phải chính là cách để con người giữ lại nhân tính – bằng chứng vô hình để xác nhận danh phẩm “con người”.

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  3. Bài học nhận thức và hướng hành động của bản thân

Khẳng định câu chuyện được kể trong Giấy chứng nhận người có ý nghĩa hết sức thiết thực đối với bản thân trong việc xác lập lẽ sống:

– Nhận thức rõ hậu quả của cách ứng xử máy móc, quan liêu, vô cảm trong quan hệ với những người xung quanh.

– Xem xét vấn đề một cách toàn diện; giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, thấu tình đạt lý.

– Dũng cảm đấu tranh chống lại sự ích kỷ, tầm thường, hời hợt, vô cảm trong chính bản thân.

– Luôn có niềm tin vào những điều tốt đẹp trong đời sống xã hội;

– Gần gũi, quan tâm, mở rộng lòng mình, bao dung, vị tha, biết đặt mình vào vị trí của người khác…

 

 

 

 

2,0

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *