Các câu hỏi xoay quanh truyện ngắn Bài học đi câu của Tạ Duy Anh
Câu 1: Hình ảnh “biển không hề có sóng” ở cuối văn bản mang ý nghĩa gì?
→ Hình ảnh này tượng trưng cho sự trưởng thành và bình tâm của nhân vật “tôi” sau quá trình rèn luyện. Biển từng là nơi mơ ước đầy sóng gió, giờ trở nên lặng yên như phản chiếu sự điềm tĩnh trong tâm hồn.
Câu 2: Vì sao ông nội không mừng, không buồn khi nhân vật “tôi” trở về?
→ Ông hiểu rằng sự trưởng thành phải đến từ trải nghiệm cá nhân. Việc “tôi” ra đi hay trở về là một phần tất yếu của quá trình học hỏi, không cần phải can thiệp hay phán xét.
Câu 3: Qua chi tiết “tôi chỉ muốn phát điên” trong tuần đầu học câu, em hiểu gì về thử thách ban đầu?
→ Thử thách ban đầu thường khiến con người dễ nản lòng. Câu chuyện cho thấy để đạt được điều lớn lao, ta phải vượt qua sự nóng vội và học cách kiên trì trong từng bước nhỏ.
Câu 4: Nhân vật “tôi” từng cho rằng ông nội “cam phận”. Em có đồng tình với nhận xét đó không?
→ Không đồng tình, vì ông nội không cam phận mà sống với sự điềm tĩnh, sâu sắc và hiểu rõ giá trị của sự bền bỉ. Ông chính là người dẫn dắt “tôi” đến sự trưởng thành bằng cách không áp đặt.
Câu 5: Văn bản gợi cho em bài học gì về sự kiên nhẫn?
→ Kiên nhẫn là yếu tố cốt lõi để vượt qua thử thách và đạt được mục tiêu. Không phải cứ mơ ước là sẽ thành công, mà phải rèn luyện, chịu đựng và học cách thích nghi từng ngày.
Đề đọc hiểu thi vào 10: Bài học đi câu được trích từ đề chính thức thi vào 10 tỉnh Đắk Lắk năm 2025 2026
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4 điểm)
Đọc văn bản:
Ông nội tôi là nghệ nhân câu cá. Từ bé tôi đã thấy ông gắn với chiếc cần câu. Vẻ im lặng, bí ẩn của ông vừa an nhàn, vừa có cái gì đó giống như sự cam phận. Không khỏi có lúc tôi thầm nghĩ: Làm đấng nam nhi mà chỉ quanh quẩn như ông nội thì kể cũng chán. Chính ông nội khiến tôi luôn mơ về biển cả. Nơi ấy chẳng có bến bờ, mới thực sự là nơi vẫy vùng thỏa chí. Tôi cũng sẽ theo nghề câu như ông nội nhưng mà tôi câu cá kình. […]
Một hôm, tôi quyết định thử đi câu cùng với ông. Tôi vác theo chiếc sào to tướng dùng làm cần. Tôi móc con giun béo nhẫy làm mồi. Tôi cũng thả lưỡi xuống nhưng tâm trí chẳng tập trung nổi vào chiếc phao cứ lì lợm đứng im. Thật là tẻ nhạt và tù túng. Cuối buổi tôi dứt cước ném đi, dùng cần khua ầm ĩ xuống nước.
Hôm sau tôi xin ông để tôi được ra đi. Ông vẫn im lặng nhìn tôi, không tỏ ra bực tức hay vui mừng. Hình như ông rất muốn thở dài.
– Đi để thử sức thì cũng tốt – Ông chỉ bảo có vậy.
Tôi ra biển như mơ ước suốt thời bé. Tôi bỏ theo một tàu đánh cá với hy vọng sẽ bắt được cả kình. Trước mặt tôi giờ đây chỉ có đường chân trời. Nhưng chỉ được một thời gian tôi mới vỡ lẽ ra rằng không có gì chán cho bằng cứ lênh đênh trên biển. Tôi cồn cào nhớ đất liền, trong khi cá kình vẫn mất hút. Không ai, ngay cả tôi, ngờ được lại có ngày tôi tơi tả như một kẻ thất trận. Ông tôi vẫn không mừng, không buồn, tựa như việc tôi ra đi hay trở về chẳng khiến ông bận tâm, chỉ hỏi:
– Cháu về rồi à?
– Cháu về để theo nghề của ông.
Ông tôi bắt đầu truyền nghề cho tôi. Ông cho tôi một chiếc cần đủ cước, lưỡi nhưng không có mồi. Ông bảo cứ thả xuống câu, mắt không được rời phao. Tôi làm theo ông, thoạt đầu gan ruột như có lửa cháy. Ông bảo không được nóng vội. Rồi tôi ngồi qua một tuần, chỉ muốn phát điên. Bài học nhập môn gì mà cay nghiệt thế. Rồi tôi cũng qua được một tháng, lòng gan đã dịu lại. Qua hai tháng cảnh vật trở nên hiền hòa, mặt nước thôi nghiêng ngả. Qua ba tháng thì tôi không còn thấy cả chiếc cần câu đâu nữa. Bấy giờ ông tôi mới bảo:
– Giờ thì cháu có thể đi câu cá kình được rồi.
Tôi giật mình, mồ hôi túa ra. Tôi lại đi ra biển như ông nói, biển không hề có sóng.
(Trích “Bài học đi câu”, Tạ Duy Anh, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ,
số 05. NXB Giáo dục, 2012, tr.47 – 48)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,75 điểm) Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2. (0,75 điểm) Theo văn bản, ai là người đã khiến nhân vật “tôi” mơ về biển cả?
Câu 3. (0,75 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn in đậm ở văn bản trên
Câu 4. (0,75 điểm) Nhận xét về sự thay đổi của nhân vật “tôi” sau khi đi học câu một tháng. Câu 5. (1,0 điểm) Từ văn bản trên, hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em.
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
| I | ĐỌC HIỂU | 4,0 | |
|
1 |
Ngôi kể: Ngôi thứ nhất
Hướng dẫn chấm: – Trả lời như đáp án: 0,75 điểm. – Trả lời sai/Không trả lời: 0 điểm. |
0,75 | |
|
2 |
Theo văn bản, người khiển nhân vật “tôi” mơ về biển cả là ông nội.
Hướng dẫn chấm: – Trả lời như đáp án: 0,75 điểm. – Trả lời sai/Không trả lời: 0 điểm. |
0,75 |
|
|
3 |
Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:
– Nhấn mạnh tâm trạng nôn nóng, mất kiên nhẫn. – Tăng tính cụ thể, chân thật, sinh động cho câu văn. Hướng dẫn chấm: – Trả lời như đáp án: 0,75 điểm. – Trả lời được ý 1: 0,5 điểm. – Trả lời được ý 2: 0,25 điểm. – Có cách diễn đạt tương đương vẫn cho điểm tối đa. – Trả lời sai/Không trả lời: 0 điểm. |
0,75
|
|
|
4 |
Sự thay đổi của nhân vật “tôi” sau khi đi học câu một tháng:
– Sau khi đi câu một tháng: thấy “lòng gan đã dịu lại”. – Nhận xét: Thời gian đầu, nhân vật “tôi” nôn nóng, “gan ruột như có lửa cháy”, “chỉ muốn phát điên”, qua một tháng, không còn mất kiên nhẫn như lúc trước, dần thích nghi được với công việc. Hướng dẫn chấm: – Trả lời như đáp án: 0,75 điểm. – Trả lời được ý 1: 0,25 điểm. – Trả lời được ý 2: 0,5 điểm. – Có cách diễn đạt tương đương vẫn cho điểm tối đa. – Trả lời sai/Không trả lời: 0 điểm. |
0,75 |
|
|
5 |
Thí sinh đưa ra được thông điệp có ý nhất đối với bản thân. Sau đây là một vài gợi ý:
– Con người làm việc gì cũng phải có sự nhẫn nại, kiên nhẫn, không nôn nóng, vội vàng. – Con người phải có ước mơ và dám theo đuổi ước mơ. Hướng dẫn chấm: – Đưa ra thông điệp: 0,5 điểm – Li giải hợp lí, thuyết phục: 0,5 điểm. – Li giải hợp lí nhưng chưa thuyết phục: 0,25 điểm. – Không trả lời: 0 điểm. |
1,0
|